Kỷ niệm 61 năm Ngày thành lập ngành Kiểm sát
Hưởng ứng giải  Búa Liềm Vàng

Nâng cao kỹ năng, chất lượng các hoạt động xét hỏi, tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự thông qua số hóa hồ sơ

Thứ tư - 16/06/2021 22:30 155 0
Thực tiễn cho thấy việc công bố và xem xét chứng cứ thông qua phương thức trình chiếu các tài liệu, chứng cứ đã được số hóa là cách thức sinh động, thuyết phục và hiệu quả cao hơn so với phương pháp trình bày bằng lời nói.
Qua đó, đảm bảo thực hiện tốt nguyên tắc công khai chứng cứ tại phiên tòa và tăng cường hiệu quả hoạt động tranh tụng. Để tiếp tục nâng cao chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa, coi hoạt động này là nội dung trọng tâm, trung tâm của thực hành quyền công tố theo tinh thần Chỉ thị số 01/CT-VKSTC ngày 31 tháng 12 năm 2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, trong phạm vi bài viết tác giả xin nêu một số giải pháp nhằm nâng cao kỹ năng, chất lượng các hoạt động xét hỏi, tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự thông qua số hóa hồ sơ.
Một là, tăng cường quản lý, chỉ đạo, hướng dẫn hoạt động tranh tụng
Tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành theo hướng sâu sát, kịp thời và linh hoạt; tăng cường vai trò, trách nhiệm, nêu gương của người đứng đầu cơ quan, đơn vị trực tiếp tham gia thực hành quyền công tố, xét xử các phiên tòa rút kinh nghiệm án hình sự có áp dụng số hóa hồ sơ để Kiểm sát viên, công chức trong đơn vị cùng học tập, trao đổi, rút kinh nghiệm nâng cao kỹ năng nghiệp vụ. Ngoài ra phải thường xuyên theo dõi phiên tòa xét xử vụ án hình sự của Kiểm sát viên để nắm bắt, chỉ đạo chấn chỉnh hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên, làm cho kiểm sát viên luôn có ý thức đề cao trách nhiệm, khẳng định bản lĩnh, chú trọng chất lượng khi thực hiện nhiệm vụ này.
Hai là, kiểm sát chặt chẽ hoạt động điều tra, tạo tiền đề cho hoạt động số hóa, tranh tụng tốt tại phiên tòa.
Kiểm sát viên luôn luôn phải thực hiện “kiểm sát điều tra từ đầu”, nêu yêu cầu điều tra (yêu cầu đặt ra là phải truy tìm, củng cố, đánh giá chứng cứ cả trên chiều rộng và chiều sâu, bảo đảm đạt được bản chất thật, tính thống nhất, liên quan của các chứng cứ, đề phòng tình huống chối tội, phản cung, kêu oan sau này), dự nghe cung để góp ý với Điều tra viên, hỏi cung cùng Điều tra viên, trực tiếp hỏi cung, lấy lời khai để phát hiện vi phạm trong quá trình giải quyết vụ án và đề xuất áp dụng các biện pháp đảm bảo tất cả các vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự quy định tại Điều 85 BLTTHS phải được giải quyết một cách triệt để. Khi thu thập chứng cứ đến đâu thì nên số hóa đến đó, nên số theo hình thức cây thư mục sẽ dàng cho việc nhận định củng cố thu thập chứng cứ. Ví dụ như cây thư mục sẽ có các mục: nhóm hành vi phạm tội cụ thể của từng bị cáo mà Viện kiểm sát đã xác định (kể cả hành vi không truy tố); Nhóm các chứng cứ mà Viện kiểm sát dùng làm căn cứ xác định tội phạm và người phạm tội; Nhóm những tình tiết định khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị can, Nhóm chứng cứ xác định tội danh và điều khoản … Việc kiểm sát viên phân loại theo từng nhóm chứng cứ sẽ giúp kiểm sát viên làm chủ giá trị chứng minh, giúp cho việc giải quyết vụ án được nhanh chóng, dễ dàng trình chiếu những chứng cứ điện tử để giải quyết được những mâu thuẫn, bảo vệ được cáo trạng, tranh tụng tốt tại phiên tòa.
Ba là, kiểm sát viên phải chủ động dự kiến, xử lý tốt tình huống tại phiên tòa.
Sau khi Kiểm sát viên nắm chắc từng nội dung Số hóa hồ sơ ở những giai đoạn tố tụng trước tùy thuộc vào diễn biến phiên tòa, để chủ động tham gia xét hỏi, chọn lựa phương pháp xét hỏi phù hợp phục vụ việc chứng minh và khẳng định các tài liệu được thu thập trong quá trình điều tra có trong hồ sơ vụ án đã đảm bảo tính hợp pháp, tính khách quan, tính liên quan của tài liệu chứng cứ theo Điều 86, Điều 88 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Câu hỏi ngắn gọn, rõ ràng, từ ngữ dễ hiểu, không đa nghĩa, không sử dụng tiếng lóng, không đặt câu hỏi mớm cung, dụ cung.
Khi xét hỏi Kiểm sát viên tập trung vào những nội dung Hội đồng xét xử chưa hỏi hoặc hỏi rồi nhưng còn thiếu hoặc chưa rõ, hỏi về những nội dung còn có mâu thuẫn và hỏi để chuẩn bị cho đối đáp tranh tụng (hỏi để nhấn mạnh lại một lần nữa các chứng cứ đã có trong hồ sơ để khẳng định giá trị của các chứng cứ, phục vụ cho hoạt động đối đáp, tranh luận). Khi xét hỏi các bị cáo trong vụ án có đông người tham gia hoặc có đồng phạm, Kiểm sát viên phải có kế hoạch xét hỏi bị cáo nào trước, bị cáo nào sau; hỏi vấn đề nào trước để khai thác đầy đủ các thông tin cần đánh giá, đấu tranh với những mâu thuẫn trong lời khai, làm bộc lộ được những tình tiết có ý nghĩa chứng minh sự thật vụ án (nên dựa vào đề cương xét hỏi điện tử đã phân loại, dự kiến trước đó) Trong khi hỏi có thể hỏi tuần tự, hỏi vòng quanh, hỏi bất ngờ vào điểm yếu, hỏi đứt quãng, hỏi củng cô từng bước, hỏi chi tiết từng vấn đề để đánh giá tính chính xác của lời khai, làm rõ mâu thuẫn ở các giai đoạn tố tụng trước. Trong trường hợp bị cáo chối tội, Kiểm sát viên không nên hỏi ngay bị cáo, mà hỏi người làm chứng, công bố tài liệu, chứng cứ bằng hình ảnh đã được thu thập hợp pháp đúng quy định tố tụng để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo để bị cáo xác nhận; công bố tài liệu, chứng cứ bằng hình ảnh lời khai bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố sau đó mới hỏi bị cáo để bị cáo nhận thức và thừa nhận chứng cứ buộc tội.
Kiểm sát viên cần đối đáp, tranh luận từng vấn đề, từng ý kiến. Trường hợp các vụ án đồng phạm có nhiều Luật sư bào chữa nêu ý kiến thì Kiểm sát viên phải chú ý lắng nghe, ghi chép đầy đủ và phân loại thành từng nhóm vấn đề để kịp thời truy xuất dữ liệu tại các bản trích cứu điện tử, tài liệu hồ sơ đã số hóa để đối đáp, tranh luận. Nội dung tranh luận phải ngắn gọn, khách quan, toàn diện, trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ và nhất thiết phải dựa vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Việc tranh luận phải đầy đủ tất cả các ý kiến của Luật sư, không được để sót hoặc không tranh luận.
Bốn là, tạo điều kiện để người bào chữa tham gia sớm và thực hiện đầy đủ quyền của họ theo quy định pháp luật
Kiểm sát viên phải bảo đảm cho người bào chữa và người tham gia tố tụng khác tham gia các hoạt động điều tra như hỏi cung bị can, lấy lời khai những người tham gia tố tụng, thu thập, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu …theo quy định tại Điều 73 BLTTHS sẽ nâng cao tính thận trọng, tuân thủ pháp luật của những người tiến hành các hoạt động điều tra, truy tố, hạn chế vi phạm thủ tục tố tụng; tôn trọng và xem xét đầy đủ, kịp thời ý kiến của người bào chữa, người tham gia tố tụng khác theo quy định của pháp luật, nhằm bảo đảm việc điều tra, thu thập chứng cứ khách quan, toàn diện và đúng pháp luật. Qua đó góp phần nâng cao giá trị chứng minh của chứng cứ khi số hóa hồ sơ tài liệu, bảo đảm tranh tụng về sau đạt kết quả tốt, tránh oan, sai.
Năm là, phối hợp tốt với các cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan liên quan đến hoạt động xét xử
Tăng cường ký kết, thực hiện nghiêm quy chế phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, trên cơ sở tôn trọng chức năng, nhiệm vụ của mỗi ngành theo quy định của pháp luật và vận dụng triệt để các quy định của Thông tư liên tịch như: Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 19/10/2018, Thông tư liên tịch số 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP ngày 22/12/2017 để thống nhất đường lối giải quyết, hạn chế các trường hợp truy tố thiếu căn cứ, sai tội danh, sai khung hình phạt của Viện Kiểm sát. Bên cạnh đó, Lãnh đạo đơn vị luôn theo dõi chặt chẽ các vụ án và có hướng chỉ đạo kịp thời; nhất là đối với các vụ án phức tạp, có  nhiều quan điểm khác nhau, chủ động họp liên ngành để cùng nhau tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, thống nhất quan điểm xử lý vụ án nhằm đảm bảo vụ án được khởi tố, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, tránh bỏ lọt tội phạm hay oan sai.
Như trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Kiểm sát viên phối hợp chặt chẽ với Thẩm phán được phân công thường xuyên có sự trao đổi nghiệp vụ, nhằm tháo gỡ, khắc phục những thiếu sót có thể xảy ra. Cũng như tạo điều kiện cho việc trình chiếu công bố tài liệu, chứng cứ bằng hình ảnh tại phiên tòa.
Đồng thời lãnh đạo đơn vị phải tăng cường phối kết hợp giữa ba ngành tố tụng, giữa cấp trên và cấp dưới để nhanh chóng giải quyết những khó khăn, vướng mắc, hạn chế việc thiếu nhất quán về quan điểm giữa cấp trên và cấp dưới và giữa các ngành tư pháp trong quá trình giải quyết vụ án nghiêm trọng, phức tạp.

Một số lưu ý trong xét hỏi, công bố “tài liệu số hóa” tại phiên tòa hình sự
Việc công bố tài liệu, chứng cứ bằng hình ảnh tại phiên tòa của Kiểm sát viên (KSV) được thực hiện thời điểm nào, trường hợp nào, tùy thuộc vào từng vụ án, từng tình huống phát sinh trong quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hoạt động này được Kiểm sát viên thực hiện ở phần “thủ tục tranh tụng tại phiên tòa” quy định tại Mục V của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS). Tuy nhiên, mục đích cuối cùng là để: Xác định sự thật của vụ án (Điều 15 BLTTHS); trình bày, tranh luận, làm rõ chứng cứ, các tình tiết, nội dung vụ án tại phiên tòa (Điều 26 BLTTHS); để đối đáp đến cùng từng ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa (khoản 2 Điều 322 BLTTHS)
Kiểm sát viên khi công bố chứng cứ tài liệu phải tuân theo quy định tại các điều 308,312,315 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 như: Nếu người được xét hỏi có mặt tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên không được công bố lời khai của họ trong các giai đoạn điều tra, truy tố. Chỉ được công bố lời khai trong giai đoạn điều tra truy tố khi thuộc một trong các trường hợp: lời khai người được xét hỏi tại phiên tòa mâu thuẫn với lời khai của họ trong giai đoạn điều tra, truy tố; người được xét hỏi không khai tại phiên tòa hoặc không nhớ lời khai của mình; người được xét hỏi vắng mặt hoặc đã chết hoặc người được xét hỏi đề nghị công bố lời khai của họ … Ngoài ra những tài liệu mật khi công bố phải được giải mật, được sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền.
Với mỗi bị cáo đều có nguyên nhân, điều kiện phạm tội khác nhau. Vì vậy, khi tranh tụng, trình chiếu chứng cứ điện tử cần phân tích các vấn đề theo hướng đi sâu vào từng vụ án cụ thể. Đối với các vụ án trọng điểm, án dư luận quan tâm hay phiên tòa rút kinh nghiệm Kiểm sát viên nên lưu ý tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đến những người tham dự phiên tòa, đảm bảo phù hợp với tình hình thực tế ở địa phương và công tác phòng chống tội phạm trên địa bàn. Qua đó, kiến nghị các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật.

Tác giả bài viết: Lê Xuân Quang

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

TRUYỀN HÌNH KIỂM SÁT
Mail công vụ
Thống Kê Truy Cập
  • Đang truy cập33
  • Máy chủ tìm kiếm11
  • Khách viếng thăm22
  • Hôm nay2,020
  • Tháng hiện tại11,298
  • Tổng lượt truy cập163,425
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây