Hưởng ứng giải  Búa Liềm Vàng

Kinh nghiệm thực hiện Quyền yêu cầu của KSV trong khám nghiệm hiện trường các vụ án tai nạn giao thông đường bộ

Thứ hai - 09/05/2022 11:33 1.027 0
Chúng ta đều biết rằng, quyền yêu cầu là một quyền năng của Kiểm sát viên trong quá trình kiểm sát giải quyết vụ án hình sự. Đây là quyền hạn theo tố tụng và cũng là trách nhiệm pháp lý của các Kiểm sát viên được quy định tại Điều 42 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Quyền yêu cầu có ý nghĩa định hướng, tác động đối với Cơ quan điều tra để đảm bảo cho hoạt động điều tra, thu thập tài liệu, chứng cứ đầy đủ, khách quan, qua đó vụ án được giải quyết đúng đắn, toàn diện và triệt để, hạn chế cũng như khắc phục được việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Trong phạm vi bài viết tác giả chỉ đi sâu vào phân tích Quyền yêu cầu của Kiểm sát viên (KSV) trong khám nghiệm hiện trường các vụ án tai nạn giao thông đường bộ, một số kinh nghiệm trong khi thực hiện quyền yêu cầu để đảm bảo giá trị chứng minh của chứng cứ trong các vụ án tai nạn giao thông đường bộ; một số giải pháp để phối hợp, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quyền yêu cầu trong khám nghiệm hiện trường của Viện kiểm sát trên thực tiễn.
Quyền yêu cầu trước khi khám nghiệm hiện trường
Để nắm bắt tình hình trước khi khám nghiệm hiện trường, KSV chủ động nắm tình hình thông qua yêu cầu Điều tra viên (ĐTV), cán bộ điều tra thông báo nội dung, diễn biến ban đầu của sự việc xảy ra để tham gia ý kiến vào việc chuẩn bị khám nghiệm. Để bảo đảm khách quan, toàn diện, đúng pháp luật trong quá trình khám nghiệm, KSV có thể trao đổi với ĐTV, cán bộ điều tra, người có chuyên môn để thống nhất nội dung, kế hoạch, trình tự khám nghiệm hiện trường (hình thức trực tiếp); Yêu cầu Cơ quan điều tra (CQĐT) bảo vệ, giữ nguyên hiện trường, tránh làm xáo trộn hiện trường; Chủ động yêu cầu ĐTV, cán bộ điều tra tiến hành khám nghiệm hiện trường, bảo đảm đúng quy định Điều 201 BLTTHS như:
Khi tiếp cận, quan sát hiện trường, KSV phải nhạy bén trong việc hình dung, dự liệu tình huống pháp lý để đưa ra phán đoán, nhận định kịp thờitrong thực tế, khi tiến hành kiểm sát điều tra các vụ tai nạn giao thông đường bộ, nhận thấy công tác bảo vệ hiện trường và khám nghiệm hiện trường không kịp thời nên đa số khi khám nghiệm thì hiện trường đã bị xáo trộn do nhiều nguyên nhân khác nhau. Vì vậy KSV cần căn cứ vào những dấu vết còn lại ở hiện trường, căn cứ vào lời khai của nạn nhân, người gây tai nạn hoặc người làm chứng, KSV cần trao đổi với ĐTV để xác định lại hiện trường vụ tai nạn. Để đề ra quyền yêu cầu trúng và đúng KSV phải dựa trên cơ sở tôn trọng các quy luật của vận động vật chất, nguyên lý hoạt động và cấu tạo của từng phương tiện, đoạn đường nơi xảy ra tai nạn… để xác định cơ chế hình thành dấu vết, từ đó sắp xếp lại các sự kiện, dấu vết, tìm ra những điểm thống nhất, phù hợp, những điểm mâu thuẫn, sai quy luật để định hướng giúp ĐTV xác định đúng hiện trường nhằm phục vụ tốt nhất cho công tác khám nghiệm hiện trường và xử lý vụ tai nạn.
Thực tế hiện trường các vụ tai nạn giao thông đường bộ thường dẫn đến ách tắc giao thông, vì vậy KSV cần nhanh chóng lựa chọn, khoanh vùng, xác định những khu vực có thể tiến hành khám nghiệm trước thì yêu cầu ĐTV tập trung lực lượng, phương tiện tác nghiệp để tiến hành khám nghiệm nhằm giải toả một phần hiện trường phục vụ yêu cầu lưu thông của các phương tiện, khi đó chiến thuật khám nghiệm theo từng khu vực của hiện trường sẽ đem lại hiệu quả cao.  
Khi tiếp cận hiện trường KSV phải tiến hành ghi nhận sơ bộ tình trạng hiện trường, các yếu tố điều kiện ngoại cảnh có thể liên quan tới vụ tai nạn ngay khi tiếp cận hiện trường, phục vụ việc nghiên cứu, đánh giá dấu vết, xác định nguyên nhân tai nạn để yêu cầu ĐTV thể hiện đầy đủ trong biên bản khám nghiệm như: về điều kiện ngoại cảnh xung quanh hiện trường (hệ thống đèn đường, ánh sáng khu dân cư, nguồn sáng khác nếu có); vị trí nơi xảy ra tai nạn (gần chỗ giao cắt, khúc cua khuất tầm nhìn, …); các thông số, tiêu chuẩn kỹ thuật mặt đường tại nơi xảy ra tai nạn (loại đường, độ nhám mặt đường, độ rộng…); các phương tiện, thiết bị điều khiển, chỉ dẫn giao thông (đèn báo, biển báo, vạch chia làn, biển chỉ dẫn…) và những điều kiện tự nhiên khác có ảnh hưởng tới việc lưu thông của phương tiện. Đồng thời thông qua đó định hướng với ĐTV lựa chọn phương pháp, chiến thuật để tiến hành khám nghiệm, lựa chọn các mốc cố định phù hợp tại hiện trường, làm cơ sở tiến hành các hoạt động đo đạc, ghi nhận cụ thể, chính xác, bổ sung thông tin khi chụp ảnh, ghi hình hiện trường nhất là những hiện trường xẩy ra vào ban đêm.
Trường hợp phát hiện vụ việc thuộc thẩm quyền kiểm sát của VKS khác thì báo cáo ngay với lãnh đạo Viện, lãnh đạo đơn vị (có thể bằng cách gọi điện thoại…) để có sự chỉ đạo kịp thời nhằm đảm bảo việc khám nghiệm hiện trường được thực hiện đúng thẩm quyền, thủ tục theo quy định, như thông báo cho VKS có thẩm quyền; đồng thời yêu cầu CQĐT thông báo cho CQĐT có thẩm quyền.
Quyền yêu cầu trong quá trình khám nghiệm hiện trường 
Khi khám nghiện hiện trường, việc trước tiên KSV phải xem xét thành phần tham dự, thủ tục khám nghiệm có đúng theo quy định tại khoản 2 Điều
201 BLTTHS, nếu không đúng thì KSV yêu cầu cơ quan điều tra khắc phục ngay. Trong quá trình kiểm sát khám nghiệm hiện trường ngoài việc kiểm sát các hoạt của CQĐT theo khoản 3 Điều 201 BLTTHS thì KSV cần phải chú trọng một số vấn đề sau:

Tại hiện trường nếu có những người biết sự việc, người làm chứng, người bị hại hoặc đối tượng có thể chết hoặc mất khả năng khai báo, KSV phải yêu cầu Điều tra viên, Cán bộ điều tra lấy ngay lời khai và ghi âm lời khai của họ (việc lấy lời khai phải đảm bảo thủ tục tố tụng, bảo đảm sử dụng làm chứng cứ giải quyết vụ án). Việc lấy lời khai ban đầu rất quan trọng vì vậy khi lấy lời khai phải hỗ trợ, yêu cầu ĐTV làm rõ được các yêu cầu sau: về vị trí, khoảng cách từ nơi người biết sự việc, người làm chứng, người bị hại hoặc đối tượng quan sát đến nơi xảy ra tai nạn; hướng chuyển động của từng loại phương tiện; vị trí người, đồ vật, phương tiện sau khi xảy ra tai nạn; đặc điểm, loại phương tiện gây tai nạn, màu sơn, biển số; phản ứng của nạn nhân trước, trong và sau khi xảy ra tai nạn, xác định hướng di chuyển phần, phía nào của đường; Người điều khiển phương tiện gây tai nạn đã xử lý như thế nào trước khi khi xảy ra tai nạn; Tình trạng mặt đường, thời tiết, thời điểm, lưu lượng phương tiện xung quanh tại thời điểm xảy ra vụ tai nạn; Nguyên nhân xảy ra vụ tai nạn; ...
Kịp thời yêu cầu ĐTV, Cán bộ điều tra xác định phạm vi cần khám nghiệm và những loại dấu vết, vật chứng, đồ vật, tài liệu, dữ liệu điện tử cần được xem xét, thu giữ. Đồng thời phải yêu cầu làm rõ được các nhóm dấu vết chủ yếu như: Dấu vết phanh (là loại dấu vết hình thành khi người điều khiển phương tiện đạp phanh tạo vết lết của lốp xe trên mặt đường); Vết cà xước trên mặt đường (hình thành khi đã có sự đâm va, chạm quệt giữa các phương tiện làm cho một hoặc cả hai bên phương tiện bị đổ ngã, kéo lê hoặc quăng quật trên mặt đường tạo thành); Vết trượt của lốp xe để lại trên mặt đường; Dấu vết máu (tồn tại dưới dạng lấm tấm, máu bị quệt, máu thấm, loang, đông, khô…), dấu vết là các chất lỏng khác như xăng, dầu, nước, bia, rượu, hóa chất, hàng hóa khác … việc xác định đúng dấu vết trượt, cà xước để lại trên các phương tiện có liên quan đến vụ tai nạn va quệt nhau; Dấu vết lông, tóc, sợi hoặc các phần nội tạng, phần cơ thể của nạn nhân bám trên phương tiện; Dấu vết để lại trên mũ, nón, quần áo, giầy dép, tư trang của nạn nhân các dấu vết để lại trên hiện trường từ vết phanh đến điểm chạm đầu tiên, quá trình văng, va đập, đổ ngã của người, phương tiện sẽ giúp xác định lỗi của các bên tham gia giao thông, qua đó định hướng phương pháp điều tra, làm rõ nguyên nhân gây tai nạn, xác định lỗi của các bên. Trên thực tế khi yêu cầu làm rõ các dấu vết trên, KSV phải dựa trên cơ chế hình thành dấu vết sự va chạm giữa các phương tiện với nhau, phương tiện với người . Việc xem xét dấu vết trên người bị tai nạn giúp cho ĐTV, KSV xác định sơ bộ cơ chế hình thành thương tích trong các vụ tai nạn giao thông, từ đó có một đánh giá khái quát về diễn biến vụ tai nạn giao thông, nhằm giải quyết một cách khách quan, toàn diện nhất.
Nếu tại hiện trường, người và phương tiện gây tai nạn đã bỏ trốn thì KSV yêu cầu ĐTV áp dụng ngay các biện pháp nghiệp vụ truy tìm người, phương tiện theo dấu vết nóng như: Dấu vết sinh vật, nguồn hơi... Đồng thời, tìm kiếm những dấu vết mà qua đó truy nguyên được người (thông qua dấu vết đường vân, lông tóc, vải sợi…); truy nguyên phương tiện (thông qua dấu vết hoa vân lốp xe, dấu vết bùn đất…); xác định hướng di chuyển phương tiện (thông qua dấu vết xăng, dầu, bùn đất văng bắn…) thoát khỏi hiện trường.
KSV cần chú ý yêu cầu ĐTV khai thác thông tin từ việc trích xuất thiết bị giám sát hành trình của phương tiện, từ hệ thống camera an ninh của nhà dân xung quanh hoặc tại một số tuyến đường có lắp hệ thống giám sát an ninh (nếu có) nhằm hỗ trợ cho hoạt động thu thập, đánh giá dấu vết, vật chứng tại hiện trường.
Trong quá trình khám nghiệm hiện trường, ngoài việc KSV phải kiểm sát chặt chẽ các hoạt động khám nghiệm thì KSV phải kiểm sát cả việc ĐTV, Cán bộ điều tra, người có chuyên môn có thực hiện đúng trình tự, thủ tục khám nghiệm; vẽ sơ đồ, chụp ảnh, đo đạc và mô tả thực trạng hiện trường và thực hiện các hoạt động khác theo quy định của pháp luật hay không. Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường có được vẽ ngay tại nơi khám nghiệm hay không. Nếu Điều tra viên, Cán bộ điều tra, người có chuyên môn không thực hiện đúng thì KSV phải thực hiện ngay quyền yêu cầu để khắc phục những sai phạm thiếu sót, tránh vi phạm thủ tục tố tụng để dẫn đến việc hủy, sửa án. Trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ thì Kiểm sát viên kịp thời báo cáo lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện để xin ý kiến chỉ đạo; yêu cầu Điều tra viên ghi ý kiến của mình vào biên bản khám nghiệm.
Ngoài việc yêu cầu ĐTV, Cán bộ điều tra khắc phục những sai phạm, thiếu sót trong quá trình khám nghiệm, KSV phải ghi chép đầy đủ, chính xác, rõ ràng, cụ thể các tình tiết, đặc điểm, vị trí của dấu vết, vật chứng, đồ vật, tài liệu quan trọng tại hiện trường để có cơ sở xem xét đối chiếu, kiểm tra với biên bản và sơ đồ khám nghiệm hiện trường. Trường hợp cần thiết, KSV có thể chụp ảnh, ghi hình, vẽ sơ đồ, mô tả hiện trường, xem xét tại chỗ dấu vết, đồ vật, tài liệu có liên quan đến tội phạm, lấy lời khai và ghi âm lời khai của người bị hại, người làm chứng và những người biết việc, các tài liệu này được lưu trong hồ sơ kiểm sát cũng như thực hiện quyền yêu cầu nếu có vi phạm sau khi kết thúc khám nghiệm hiện trường.
Để các yêu cầu khám nghiệm của KSV được chính xác và có căn cứ, trước khi đề ra các yêu cầu KSV phải nghiên cứu cơ chế, quy luật hình thành dấu vết để có thể phát hiện, xác định được loại dấu vết; dấu vết hình thành đúng hay trái với quy luật thông thường, sự mâu thuẫn giữa các dấu vết, vật chứng, đồ vật, tài liệu, dữ liệu điện tử …để yêu cầu chính xác và có căn cứ. Trường hợp ý kiến giữa KSV và ĐTV không thống nhất thì KSV yêu cầu ghi ý kiến của mình vào biên bản và báo cáo lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện sau khi kết thúc khám nghiệm.
Kết thúc việc khám nghiệm KSV yêu cầu ĐTV, Cán bộ điều tra quán triệt những người tham gia khám nghiệm hiện trường giữ bí mật về kết quả khám nghiệm, tuyệt đối không được tiết lộ, gây khó khăn cho công tác điều tra, giải quyết vụ án.
Quyền yêu cầu sau khi kết thúc việc khám nghiệm hiện trường
Nếu sau khi kết thúc khám nghiệm hiện trường mà ĐTV không bàn giao lại các đồ vật, tài sản... trên hiện trường (những thứ không cần thu giữ, tạm giữ để phục vụ cho công tác điều tra) cho chủ sở hữu, tổ chức, cá nhân là người quản lý hợp pháp thì KSV phải yêu cầu ĐTV thực hiện.
Phối hợp cùng với ĐTV để xác định rõ những dấu vết, vật chứng nào cần
được trưng cầu giám định, nội dung cần trưng cầu để phục vụ cho công tác điều
tra, giải quyết vụ án. Nếu trường hợp ĐTV không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ KSV có thể yêu cầu bằng văn bản
nội dung cần trưng cầu.

Kết thúc quá trình khám nghiệm hiện trường những yêu cầu của KSV không được ĐTV, Cán bộ điều tra, người có chuyên môn thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ (nếu có); cần phải khám nghiệm bổ sung, khám nghiệm lại, thì KSV đề xuất ý kiến đó với lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện yêu cầu CQĐT có biện pháp tiếp tục bảo vệ hiện trường; Nếu trường hợp sơ đồ hiện trường không thể làm tại nơi khám nghiệm được, đối với những trường hợp này KSV cần tự mình ghi chép, chụp ảnh, vẽ sơ bộ hiện trường để từ đó đối chiếu, yêu cầu Điều tra viên, cán bộ điều tra khắc phục nếu có sai sót trong sơ đồ hiện trường.
Với những phân tích như trên, có thể thấy, Kiểm sát viên có thể thực hiện quyền yêu cầu dưới hai dạng: (1) Yêu cầu bằng lời nói, do KSV đề ra trong quá trình trực tiếp kiểm sát khám nghiệm hiện trường. (2) Yêu cầu bằng lời nói hoặc văn bản do Kiểm sát viên đề ra sau khi kết thúc khám nghiệm hiện trường liên quan đến những vấn đề Cơ quan điều tra chưa tiến hành hoặc tiến hành chưa đúng, chưa đủ.
Thực hiện triệt để quyền yêu cầu của KSV trong khám nghiệm nghiệm trường không những đảm bảo giá trị chứng minh của chứng cứ mà còn đảm bảo hoàn thiện về thủ tục tố tụng ban đầu; hạn chế hoặc có thể tránh những thiếu sót, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng; từ đó nâng cao chất lượng giải quyết án.
Giải pháp phối hợp trong thực hiện quyền yêu cầu.
Trong việc phối hợp giải quyết án hình sự về cơ bản đã được cụ thể hóa trong BLTTHS và Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 19/10/2018 quy định về phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của BLTTHS năm 2015, tuy nhiên, để các quy định của pháp luật có hiệu lực, hiệu quả vào thực tiễn là một điều không đơn giản. Trong bài viết này tác giả xin đề xuất một số kỹ năng phối hợp để thực hiện tốt quyền yêu cầu của VKS trong khám nghiệm hiện trường các vụ án tai nạn giao thông đường bộ trên thực tiễn:
Một là, ngay từ khi phân công, Kiểm sát viên phải xác định rõ quan hệ giữa Kiểm sát viên và ĐTV là quan hệ phối hợp, cùng chung nhiệm vụ, đó là: Làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án. Vì vậy KSV phải thường xuyên phối hợp, trao đổi nội dung khám nghiệm trong suốt quá trình khám nghiệm cùng ĐTV đưa ra định hướng cho hoạt động khám nghiệm, những vấn đề cần làm sáng tỏ, những chứng cứ cần thu thập,… đặt biệt không phân biệt “quyền anh, quyền tôi”. Khi khám nghiệm hiện trường có nhiều quan điểm khác nhau giữa ĐTV và KSV thì cần báo cáo lãnh đạo viện kịp thời, chủ động trao đổi ngay với lãnh đạo CQĐT để cùng nhau tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, thống nhất quan điểm xử lý vụ án nhằm đảm bảo vụ án được khám nghiệm hiện trường theo đúng quy định pháp luật để có thể khởi tố, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, tránh bỏ lọt tội phạm hay oan sai.
Hai là, KSV phải không ngừng trao dồi, học hỏi kinh nghiệm nắm rõ được đặc điểm của từng loại hiện trường, quy luật hình thành và tồn tại của dấu vết cũng như mối quan hệ giữa các dấu vết, vật chứng tại hiện trường, các loại dấu vết phổ biến, vị trí xuất hiện của chúng… Từ đó hỗ trợ trúng và đúng cho ĐTV để xác định chính xác cách thức phát hiện, ghi nhận, thu lượm và bảo quản phù hợp với từng loại dấu vết, đánh giá, giải thích đúng cơ chế, quy luật hình thành dấu vết tại hiện trường phục vụ có hiệu quả hoạt động điều tra. Từ đó uy tín, quyền yêu cầu của VKS sẽ được nâng cao về hiệu lực, hiệu quả trong quá trình phối hợp.
Ba là, Lãnh đạo VKS cần chủ động tham mưu cho cấp uỷ chỉ đạo thực hiện cơ chế phối hợp liên ngành bằng ký kết Quy chế phối hợp với những qui định trách nhiệm cụ thể của mỗi ngành trong quá trình khám nghiệm hiện trường các vụ án tai nạn giao thông đường bộ nói riêng và quá trình giải quyết các vụ án hình sự nói chung. Qua đó, VKS luôn nắm bắt được tình hình, thực hiện tốt quyền yêu cầu một cách chặt chẽ và toàn diện, góp phần đảm bảo quy định pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh và thống nhất.

Tác giả bài viết: Lê Xuân Quang - Nguyễn Thị Tường Vi

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

TRUYỀN HÌNH KIỂM SÁT
Công khai ngân sách
Mail công vụ
Thống Kê Truy Cập
  • Đang truy cập112
  • Máy chủ tìm kiếm10
  • Khách viếng thăm102
  • Hôm nay12,938
  • Tháng hiện tại38,448
  • Tổng lượt truy cập6,411,482
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây