Hưởng ứng giải  Búa Liềm Vàng

Tòa án chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát sửa bản án sơ thẩm, bác đơn khởi kiện của nguyên đơn

Thứ ba - 23/11/2021 03:45 692 0
Vừa qua, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đã xét xử chấp nhận kháng nghị số 02/QĐKNPT-VKS-DS ngày 28/06/2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2021/DS-ST ngày 15/6/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai theo hướng: không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn như kháng nghị của Viện kiểm sát.
Nội dung vụ án cụ thể như sau: Năm 1995, gia đình ông Nguyễn Huy Thái (nguyên đơn) và gia đình ông Hoàng Xuân Mỹ (bị đơn) được Liên hiệp Lâm Công Nghiệp Kon Hà Nừng bán thanh lý cùng một dãy nhà của Liên hiệp. Dãy nhà có 03 phòng gồm: phòng chứa máy làm đá lạnh, phòng ăn và phòng bếp. Theo Hóa đơn kiểm phiếu xuất kho ngày 17/11/1995 thì ông Hoàng Xuân Mỹ được mua thanh lý phòng chứa máy làm đá lạnh và ½ nhà ăn; gia đình ông Thái được thanh lý ½ nhà ăn và khu nhà bếp. Phía sau dãy nhà có một khu vườn chung (có nhà vệ sinh, giếng nước dùng chung) mà hiện nay các bên đang tranh chấp. Năm 1997, Liên hiệp Kon Hà Nừng đã bàn giao toàn bộ diện tích đất và danh sách tên công nhân đã mua nhà thanh lý cho UBND huyện Kbang quản lý.  Theo Danh sách công nhân viên thuộc Liên hiệp được mua nhà hoặc cấp đất làm nhà ở thì gia đình ông Thái và gia đình ông Mỹ cùng đứng tên chung trong lô đất số 11. Sau đó, gia đình ông Thái và gia đình ông Mỹ đã được UBND huyện Kbang cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất có căn nhà mua thanh lý của Liên hiệp Kon Hà Nừng. Riêng phần diện tích đất phía sau (các bên đang tranh chấp) thì thuộc khu quy hoạch nên không tiến hành cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ). Năm 2012, gia đình ông Thái đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất được cấp cho gia đình ông Nguyễn Chí Dũng, bà Lương Thị Hậu theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 31/5/2012. Tại Hợp đồng chuyển nhượng thể hiện gia đình ông Thái chuyển nhượng cho gia đình ông Dũng diện tích đất 171m2 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W792042 ngày 04/9/2003. Sau khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất, giữa gia đình ông Thái và gia đình ông Dũng có tranh chấp về phần đất vườn phía sau (phần đất chung cả gia đình ông Mỹ đang sử dụng). Tại Biên bản hòa giải ngày 01/7/2014   do Tổ dân phố 7, thị trấn Kbang tiến hành thể hiện gia đình ông Thái đồng ý giao cho gia đình ông Dũng phần đất liền kề phía sau không nằm trong bìa đỏ (ông Thái giao không nhận tiền). Năm 2015, UBND huyện Kbang có chủ trương giao đất có thu tiền sử dụng đất tại khu quy hoạch dân cư trường Lý Tự Trọng, tổ dân phố 7, thị trấn Kbang. Theo đó, phần diện tích vườn phía sau dãy nhà của ông Mỹ và ông Dũng (ông Dũng nhận chuyển nhượng lại của gia đình ông Thái) được tách thành thửa số 22 và thửa số 23. Gia đình ông Mỹ đã làm đơn xin giao đất có thu tiền sử dụng đất đối với thửa đất số 22, diện tích 186m2. Đến ngày 22/6/2015, UBND huyện Kbang ban hành Quyết định số 62/QĐ-UBND về việc giao đất và cấp GCNQSDĐ cho ông Hoàng Xuân Mỹ, bà Lê Thị Hạnh; thửa đất mà ông Mỹ, bà Hạnh được cấp là thửa đất số 22, diện tích 186m2; ông Mỹ, bà Hạnh có trách nhiệm nộp 100% tiền sử dụng đất, phí và lệ phí địa chính theo quy định với mức giá 360.000 đồng/m2. Sau khi hoàn thành nghĩa vụ tài chính, ngày 03/9/2015, ông Hoàng Xuân Mỹ và bà Lê Thị Hạnh được cấp GCNQSDĐ số CA 859932 đối với thửa đất số 22, diện tích 186m2. Ông Thái, bà Sự khởi kiện yêu cầu ông Mỹ, bà Hạnh phải trả lại diện tích đất 186m2 tại thửa đất số 22 theo GCNQSDĐ số CA 859932; đồng thời tuyên hủy GCNQSDĐ số CA 859932.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2021/DS-ST ngày 15/6/2021 của TAND tỉnh Gia Lai quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Huy Thái, bà Võ Thị Sự buộc ông Mỹ, bà Hạnh phải trả lại diện tích đất 186m2 tại thửa đất số 22 tổ dân phố 7 thị trấn Kbang, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai cho ông Nguyễn Huy Thái, bà Võ Thị Sự. Hủy GCNQSDĐ quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA 859932, thửa đất số 22 do UBND huyện Kbang cấp ngày 03/9/2015 cho ông Mỹ, bà Hạnh.
         
Qua công tác kiểm sát việc giải quyết vụ án này, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai nhận thấy Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai đánh giá chứng cứ không đúng, không đầy đủ, không phù hợp với sự thật khách quan của vụ án làm ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của ông Mỹ, bà Hạnh… Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đã kháng nghị bản án trên theo thủ tục phúc thẩm và chỉ ra việc nhận định, đánh giá chứng cứ của Tòa án còn có vi phạm, thiếu sót nhu sau:

Thứ nhất, theo nội dung của Tờ trình xin đất làm vườn đề ngày 20/3/1993 của ông Thái thể hiện ông Thái xin khai thác đất (mượn) để tăng gia sản xuất, cải thiện đời sống; không phải là xin giao đất. Bên cạnh đó, theo nội dung của Báo cáo số 45/BC-TCHC ngày 01/4/1997 thì Công ty Lâm sản Kon Hà Nừng (Công ty LS Kon Hà Nừng) chỉ thanh lý nhà ở cho gia đình ông Thái để giải quyết khó khăn về nơi ở, không giao đất để sản xuất. Do đó, việc ông Thái cho rằng được Công ty LS Kon Hà Nừng giao đất và Kết luận của Thanh tra huyện Kbang xác định Công LS Kon Hà Nừng giao đất trái thẩm quyền để áp dụng khoản 2, khoản 3 Điều 23 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP đối với trường hợp giao đất cho Hoàng Xuân Mỹ, Lê Thị Hạnh là không đúng và không có cơ sở.
Thứ hai, công ty LS Kon Hà Nừng không giao diện tích đất tranh chấp là thửa đất số 22 nên Biên bản kiểm kê bồi thường ngày 03/01/2015 đã không bồi thường về đất cho ông Thái (chỉ bồi thường cây cối trên đất); việc ông Thái không được bồi thường về đất, ông Thái đã không khiếu nại, khởi kiện là đã thừa nhận đất của Nhà nước; quá trình tố tụng tại Tòa án cấp sơ thẩm ông Thái thừa nhận không sử dụng đất từ sau khi kiểm kê, bồi thường tài sản và gia đình ông Dũng khai diện tích đất tranh chấp không có ai sử dụng. Do đó, gia đình ông Thái không đủ điều kiện để được cấp GCNQSDĐ tranh chấp theo quy định tại Điều 100 và Điều 101 Luật Đất đai năm 2013 và Điều 18 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ.
Thứ ba, tại buổi hòa giải ngày 01/7/2014 (do Tổ dân phố 7, thị trấn Kbang tiến hành), ông Thái đồng ý giao cho ông Dũng phần đất liền kế phía sau không nằm trong bìa đỏ. Như vậy, phần diện tích đất vườn phía sau ông Thái đã đồng ý giao cho ông Dũng, ông Thái đã chuyển đi nơi khác không còn sử dụng đối với diện tích đất này nên không còn liên quan đến ông Thái.
Thứ tư, xét về nguồn gốc thửa đất số 22 mà gia đình ông Thái đang tranh chấp với gia đình ông Mỹ là do Nhà nước quản lý, chưa có ai kê khai xác lập quyền sử dụng đất. Sau đó, gia đình ông Mỹ đã tiến hành các thủ tục để được UBND huyện Kbang giao đất có thu tiền sử dụng đất (như đối với trường hợp gia đình ông Dũng) là đã hơn 04 năm (năm 2015- 2019), ông Thái và bà Sự mới phát sinh tranh chấp và việc gia đình ông Thái làm thủ tục, được UBND huyện Kbang giao 01 lô đất ở khu vực này là lô đất số 19 nhưng gia đình ông Thái không làm đơn, thủ tục xin giao đất đối với thửa đất tranh chấp đã thể hiện ông Thái thừa nhận thửa đất số 22 không thuộc quyền sử dụng hợp pháp của gia đình ông Thái, bà Sự.
Từ những căn cứ nêu trên, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn (ông Thái) về việc buộc bị đơn (ông Mỹ) phải trả lại diện tích đất 186m2 tại thửa đất số 22 theo GCNQSDĐ số CA 859932, đồng thời tuyên hủy GCNQSDĐ số CA 859932 là không có cơ sở để chấp nhận. Tại Bản án dân sự số 186/2021/DS-PT ngày 21/10/2021 Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đã chấp nhận kháng nghị của VKSND tỉnh Gia Lai và sửa bán án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận đơn khởi kiện của ông Thái, bà Sự./.
 

Tác giả bài viết: Nguyễn Thị Kim Cúc

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

TRUYỀN HÌNH KIỂM SÁT
Công khai ngân sách
Mail công vụ
Thống Kê Truy Cập
  • Đang truy cập79
  • Máy chủ tìm kiếm10
  • Khách viếng thăm69
  • Hôm nay17,350
  • Tháng hiện tại620,035
  • Tổng lượt truy cập6,326,167
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây