Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai

https://vksnd.gialai.gov.vn


Một số chú ý của Kiểm sát viên khi viết và trình bày bản luận tội liên quan đến tội phạm về ma túy

Luận tội là một trong những nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân khi thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, do Kiểm sát viên được Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp phân công nhiệm vụ thực hành quyền công tố, được thực hiện ngay sau khi kết thúc phần xét hỏi, mở đầu phần tranh luận.
Thời điểm, căn cứ pháp lý của Luận tội:
Về thời điểm Kiểm sát viên trình bày luận tội, theo quy định tại Điều 320 Bộ luật Tố tụng hình sự “Sau khi kết thúc phần xét hỏi, Kiểm sát viên trình bày luận tội…”. Như vậy luận tội không chỉ là ý kiến của Kiểm sát viên kết luận về vụ án mà còn là cơ sở mở đầu cho việc tranh luận giữa Kiểm sát viên với bị cáo; Kiểm sát viên với người bào chữa, với bị hại, với nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và những người tham gia tố tụng khác về toàn bộ nội dung vụ án mà Viện kiểm sát đã truy tố ra trước Tòa án bằng Bản Cáo trạng đã được công bố công khai tại phiên tòa; Có thể quan điểm tranh luận của những người này hoàn toàn đồng ý với luận tội của Kiểm sát viên, có thể đồng ý một phần hoặc có thể không đồng ý với toàn bộ nội dung bản luận tội của Kiểm sát viên. Tuy nhiên dù quan điểm của những người tham gia phiên tòa có đồng ý hay trái với quan điểm của Kiểm sát viên, thì luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự sơ thẩm cũng là cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét, quyết định tội danh, mức hình phạt đối với bị cáo, biện pháp tư pháp và toàn bộ nội dung vụ án theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật Tố tụng hình sự quy định. Tại khoản 2 Điều 321 BLTTHS quy định: “Luận tội của Kiểm sát viên phải căn cứ vào những chứng cứ, tài liệu, đồ vật đã được kiểm tra tại phiên tòa và ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa”         
Về căn cứ pháp lý để Kiểm sát viên thực hiện việc luận tội được quy định tại khoản 2 Điều 18 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 “Xét hỏi, luận tội, tranh luận, phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa”. Bộ luật Tố tụng hình sự quy định về luận tội tại các điều:  Điều 42 (nhiệm vụ quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên); Điều 266 (Nhiệm vụ quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử); Điều 320 (Trình tự phát biểu khi tranh luận) và Điều 321 (Luận tội của Kiểm sát viên).
Nội dung luận tội:
1. Khi viết luận tội Kiểm sát viên phải bám sát biểu mẫu số 13/XS, ban hành kèm theo Quyết định số 505/QĐ-VKSTC ngày 18 tháng 12 năm 2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, bao gồm các nội dung:
(1) tóm tắt nội dung vụ án: Tóm tắt ngắn gọn, súc tích và logic.
(2) phân tích, đánh giá chứng cứ, nội dung này cần phân tích, đánh giá khách quan, toàn diện, đầy đủ chứng cứ xác định bị cáo có tội như: Biên bản phạm tội quả tang, khám nghiệm hiện trường, biên bản khám xét, biên bản kiểm tra, thu giữ vật chứng, kết luận giám định, sổ sách, chứng từ, lời khai của bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng...hay không? tất cả các nội dung này đều phải dẫn chứng bút lục để chứng minh. Kiểm sát viên phải cập nhật diễn biến tại phiên tòa để đưa ra những lập luận bác bỏ hoặc chấp nhận lời trình bày của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, đồng thời viện dẫn chứng cứ chứng minh quan điểm của mình.
Đối với những vấn đề, tình tiết mới phát hiện, phát sinh tại phiên tòa có thể làm thay đổi cơ bản nội dung, tính chất của vụ án nếu chưa được thẩm tra đầy đủ, chưa có đủ căn cứ thì Kiểm sát viên không được kết luận mà phải đề nghị hoãn phiên tòa để tiến hành điều tra, xác minh thêm.
Khi phân tích đánh giá chứng cứ đối với vụ án có nhiều bị cáo, bị cáo phạm nhiều tội, Kiểm sát viên phân tích theo trình tự: Đánh giá chứng cứ từ tội phạm đặc biệt nghiêm trọng đến tội phạm ít nghiêm trọng, từ bị cáo giữ vai trò chủ mưu đến bị cáo đồng phạm có vai trò thứ yếu. Đối với các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội có vai trò giống nhau thì phân tích theo nhóm để đánh giá. Một lưu ý quan trọng ở nội dung này là tránh trường hợp sao chép nội dung cáo trạng thành nội dung luận tội.                                                                                                                            (3) phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, làm rõ được: Động cơ, mục đích, thủ đoạn phạm tội; mức độ hậu quả tác hại do tội phạm gây ra đối với con người, đối với tài sản và an ninh, chính trị, kinh tế, trật tự trị an và an toàn xã hội. Một lưu ý trong nội dung này đó là việc phân tích, đánh giá về bị cáo, về nội dung vụ án phải thật sự khách quan, trung thực và đặc biệt “tối kỵ” việc suy diễn ra vấn đề để nhận định một cách phiến diện.
(4) về nhân thân và vai trò của từng bị cáo trong vụ án: Đánh giá, xác định vị trí, vai trò, trách nhiệm của từng bị cáo trong vụ án có đồng phạm. Việc đánh giá theo trình tự sau: Từ bị cáo có vai trò chủ mưu, xúi dục, cầm đầu đến bị cáo có vai trò thực hành, giúp sức như trong Cáo trạng. Nếu tại phiên tòa có sự thay đổi về diễn biến về vai trò của bị cáo thì phải đánh giá thay đổi theo thứ tự diễn biến tại phiên tòa. Một chú ý ở nội dung này: Phải phân tích, đánh giá nhân thân, xác định nguyên nhân, điều kiện, thời gian, hoàn cảnh phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo.
 (5) phân tích, đánh giá những nội dung khác có liên quan đến vụ án, tức là làm rõ nguyên nhân, điều kiện tạo thuận lợi để bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, những thiếu sót, sơ hở, vi phạm của cơ quan quản lý trong lĩnh vực quản lý nhà nước, xã hội… là cơ sở để Viện kiểm sát kiến nghị hoặc đề nghị Hội đồng xét xử kiến nghị để có biện pháp khắc phục sửa chữa, phòng ngừa tội phạm.
(6) kết luận: Trên cơ sở đánh giá toàn bộ chứng cứ của vụ án, nội dung này Kiểm sát viên khẳng định nội dung truy tố của Cáo trạng đã công bố công khai tại phiên tòa này là đúng hoặc chưa đúng, nếu chưa đúng chưa đầy đủ thì phải nêu rõ là nội dung nào và cần phải thay đổi, bổ sung hoặc rút quyết định truy tố hay phải kết luận về tội danh nhẹ hơn tại phiên tòa.
Nội dung này cần chú ý khi kết luận về hình sự cần phải nêu được bị cáo đã phạm vào tội danh nào được quy định tại điểm, khoản, điều nào của Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội đó. Việc xác định vật chứng và đề nghị xử lý: Tịch thu tiêu hủy, tịch thu sung công, những đồ vật tài sản không phải là vật chứng thì đề nghị trả.
Đối với vật chứng là vũ khí, vật liệu nổ, chất phóng xạ…Kiểm sát viên phải viễn dẫn Nghị định số: 70/2013/NĐ-CP  ngày 02/7/2013 của Chính phủ để đề nghị Hội đồng xét xử giao cho cơ quan có trách nhiệm trong việc quản lý, sử dụng hoặc tiêu hủy. Những đồ vật liên quan đến cá nhân của bị cáo mà bị tạm giữ như chứng minh nhân dân, căn cước công dân, hộ chiếu, bằng lái, giấy phép lái xe…cần chú ý căn cứ Nghị định số 05/1999/NĐ-CP ngày 03/02/1999 để đề nghị tuyên trả cho bị cáo nhưng phải sau khi bị cáo chấp hành xong hình phạt tù. Về phần dân sự: Xác định chủ thể phải chịu trách nhiệm dân sự; cơ sở pháp lý và hình thức, mức độ chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật.
(7) đề nghị xử lý: Đây là nội dung quan trọng nhất của bản luận tội, là nội dung mà bị cáo, những người tham gia phiên tòa mong đợi nhất, do đó Kiểm sát viên phải nêu được những nội dung:
Về trách nhiệm hình sự: Hình phạt chính: Đề nghị loại, mức hình phạt như thế nào đối với từng bị cáo, chú ý sắp xếp theo thứ tự như đã nêu ở phần đánh giá vai trò, vị trí của từng bị cáo. Bị cáo phạm nhiều tội phải đề nghị hình phạt cho từng tội và tổng hợp hình phạt theo quy định tại Điều 55 Bộ luật Hình sự, bị cáo đang chấp hành một bản án khác thì phải đề nghị tổng hợp hình phạt theo Điều 56 Bộ luật Hình sự.
- Hình phạt bổ sung: Đề nghị loại, mức hình phạt bổ sung đối với từng bị cáo theo quy định của Bộ luật Hình sự. Đối với hình phạt bổ sung cần chú ý: Bị cáo dưới 18 tuổi nếu không áp dụng hình phạt thì áp dụng biện pháp giám sát, giáo dục, biện pháp tư pháp đưa vào trường giáo dưỡng (nếu có).
Về xử lý vật chứng: Căn cứ để xử lý vật chứng theo Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị áp dụng hình thức, mức độ chịu trách nhiệm dân sự đối với từng chủ thể theo quy định của pháp luật (nếu có).
Những yêu cầu đối với việc Luận tội:
Luận tội phải bám sát nội dung vụ án, nội dung Cáo trạng và diễn biến tại phiên tòa. Kiểm sát viên phải nghiên cứu toàn bộ nội dung vụ án, tổng hợp, đánh giá đầy đủ các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án gồm phần tố tụng và phần chứng cứ. Theo quy định tại khoản 2 Điều 321 BLTTHS thì: “Nội dung luận tội phải phân tích, đánh giá khách quan, toàn diện, đầy đủ những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội; tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; nhân thân và vai trò của bị cáo trong vụ án; tội danh, hình phạt, áp dụng điểm, khoản, điều của Bộ luật hình sự, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; mức bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp; nguyên nhân, điều kiện phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án”.
3. Đối với vụ án phức tạp, dư luận xã hội đặc biệt quan tâm, các vụ án xét xử lưu động…luận tội phải có sự phê duyệt của lãnh đạo Viện.
4. Trong luận tội phải nêu và kết luận về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, cán bộ điều tra trong quá trình điều tra đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều
hợp pháp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu được thu thập trong quá trình giải quyết tin báo và xuyên suốt cả quá trình điều tra đến kết thúc điều tra vụ án là đúng quy định của pháp luật.
5. Đối với các vụ án về ma túy đều có kết luận giám định của cơ quan chuyên môn, kết luận giám định là cơ sở để khởi tố và kết luận về hành vi phạm tội của bị cáo, của từng bị cáo, do đó Kiểm sát viên phải khẳng định tài liệu là hợp pháp, có căn cứ theo đúng quy định của BLTTHS, đã được Viện kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát theo quy định tại khoản 5 Điều 88 BLTTHS. Mặt khác đối với tội phạm này Kiểm sát viên cần chú ý khác với tội phạm khác đó là vật chứng thu giữ là ma túy, do đó Kiểm sát viên phải khẳng định trong luận tội là việc thu giữ ma túy, việc tiến hành niêm phong cơ quan chức năng đã thực hiện theo đúng quy định của Điều 90 BLTTHS về bảo quản vật chứng và Nghị định 127/2017/NĐ-CP ngày 16/11/2017 của Chính phủ quy định về niêm phong và mở niêm phong vật chứng. Ngoài ra cần chú ý các tài liệu bổ sung sau khi truy tố đều phải làm bảng kê và biên bản giao nhận giữa Kiểm sát viên và Thẩm phán, tránh trường hợp tài liệu bổ sung là chứng cứ quan trọng ảnh hưởng đến việc kết luận về nội dung vụ án về hành vi phạm tội của bị cáo nhưng không làm biên bản bàn giao dẫn đến thất lạc hoặc người bào chữa cho rằng tài liệu đó đưa vào hồ sơ là không hợp pháp….
Đối với vụ án mà bị cáo chối tội, đặc thù của án ma túy chủ yếu là truy xét, do đó những vụ án mà bị cáo chối tội, Kiểm sát viên cần tổng hợp được các chứng cứ kết tội, những chứng cứ đó bao gồm: Kết luận giám định về ma túy, chữ viết, âm thanh, hình ảnh; biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản khám xét; biên bản thu giữ; dữ liệu điện tử; những lời khai của các bị cáo khác, của người làm chứng, của người chứng kiến, của những người có liên quan đến vụ án và những chứng cứ khác.…để kết luận có hành vi phạm tội về ma túy hay không và ai là người thực hiện hành vi phạm tội đó; chứng minh, làm rõ thời gian, địa điểm xảy ra hành vi phạm tội và những tình tiết khác của hành vi phạm tội; Chứng minh, làm rõ người thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy có thuộc trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, không bị truy cứu trách nhiệm hình sự do hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hay không; Chứng minh, làm rõ nguyên nhân và điều kiện phạm tội về ma túy; Chứng minh, làm rõ những tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, đặc điểm về nhân thân của người thực hiện hành vi phạm tội liên quan đến ma túy…để phản bác lại lời khai không nhận tội của từng bị cáo.
Các vụ án về ma túy có mức hình phạt rất nặng, trong Bộ luật Hình sự có 13 tội danh thì có 03 tội có khung hình phạt tử hình, 06 tội có khung hình phạt là chung thân và 04 tội danh là án rất nghiêm trọng. Có nhiều vụ án khi bắt quả tang, khởi tố theo khoản 2 của điều luật, nhưng quá trình điều tra mở rộng vụ án (truy xét) có đủ căn cứ cộng dồn số ma túy mà bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội là bán cho người khác nên Cơ quan điều tra kết luận và đề nghị Viện kiểm sát truy tố theo khoản 4 của điều luật tương ứng. Vì vậy thông thường sau khi nhận được Kết luận điều tra, bị cáo xác định được khung, mức hình phạt nên các bị cáo thường “choáng” cộng với sự tư vấn, xúi dục của người khác nên các bị cáo có xu hướng là thay đổi lời khai để mong được giảm nhẹ tội.. Do đó trong luật tội, Kiểm sát viên phải làm rõ được nguyên nhân, động cơ, mục đích của việc  bị cáo thay đổi lời khai, thời gian bị cáo thay đổi lời khai để phản bác sự thay đổi lời khai đó của bị cáo, phản bác những lập luận không có căn cứ của người bào chữa để bảo vệ nội dung cáo trạng truy tố, bảo vệ được bản chất của vụ án làm cho bị cáo, người bào chữa, cùng với những người tham gia phiên tòa phải “tâm phục, khẩu phục”. Những bị cáo chối tội có thể “khẩu” không phục, nhưng “tâm” phải phục luận tội của Kiểm sát viên.
Viết luận tội đầy đủ, lập luận chính xác, logic là yêu cầu phải có của bất cứ vụ án nào, tuy nhiên để luận tội đó đạt được mục đích như mong muốn thì cách trình bày luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa cũng góp phần rất quan trọng cho sự thành công của vụ án đó. Do đó khi trình bày luận tội Kiểm sát viên cần chú ý:
(1) cách xưng hô tại phiên tòa đúng theo hướng dẫn tại Điều 6, Quyết định 46/QĐ-VKSTC ngày 20/2/2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao khi xưng hô về bản thân; Cách xưng hô đối với người tiến hành tố tụng; Cách xưng hô đối với người tham gia tố tụng: Cách xưng hô đối với những người tham dự phiên tòa.  
 (2)cách sử dụng ngôn ngữ phải rõ ràng, phổ thông, đúng quy định của pháp luật, không nói quá nhanh, không trình bày quá chậm, không lặp lại nội dung gây nhàm chán cho người nghe.
(3) thái độ ứng xử của Kiểm sát viên, khi trình bày phải có điểm nhấn và đúng tư thế, tác phong, bản lĩnh thể hiện được quyền uy của cơ quan truy tố, được quy định tại Điều 7, Quyết định 46/QĐ-VKSTC đó là: Cử chỉ, hành động, lời nói, biểu cảm của Kiểm sát viên phải rõ ràng, dứt khoát, lịch sự, đúng mực. Tiếng nói vừa đủ nghe, ngôn ngữ phải chuẩn xác, không nói ngọng, không nói lắp; có thái độ lắng nghe, tôn trọng ý kiến của người khác. Lời nói phải dõng dạc, tự tin, từ tốn, không được cáu gắt, nóng giận, xúc phạm người khác.

Tác giả bài viết: Võ Văn Cường

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây