Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai

https://vksnd.gialai.gov.vn


Kinh nghiệm thực hiện quyền yêu cầu của Viện kiểm sát trong thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra và kiến nghị hoàn thiện

Quyền yêu cầu là một trong những hoạt động tố tụng thể hiện việc gắn chức năng công tố với hoạt động điều tra; thể hiện đầy đủ nhất chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của Viện kiểm sát (VKS) trong hoạt động kiểm sát điều tra, góp phần đảm bảo cho việc điều tra đúng quy định của pháp luật, chống oan, sai và bỏ lọt tội phạm.
Thông qua thực hiện quyền yêu cầu, Kiểm sát viên thể hiện quan điểm của mình trong việc thu thập chứng cứ. Kiểm sát viên phải lựa chọn những vấn đề cơ bản cần yêu cầu, định hướng đúng cho hoạt động giải quyết nguồn tin về tội phạm, cho hoạt động điều tra để khởi tố vụ án, khởi tố bị can; tránh hình sự hóa quan hệ dân sự; bám sát tội danh cần khởi tố để yêu cầu Cơ quan điều tra chứng minh đầy đủ những yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 và áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội theo Điều 13 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015, nhất là trong việc giải quyết những vụ án khó, phức tạp, án trọng điểm để điều tra, truy tố, xét xử bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật. Để nâng cao chất lượng việc thực hiện quyền yêu cầu trong giai đoạn này, tác giả chia sẻ một số kinh nghiệm từ thực tiễn công tác như sau: 
Về thực hiện quyền yêu cầu để bổ sung, hoàn thiện thủ tục tố tụng hình sự
Kiểm sát viên (KSV) khi nghiên cứu hồ sơ cần chú ý đến những thiếu sót thường gặp về thủ tục tố tụng trong các vụ án hình sự như: Biên bản khám nghiệm hiện trường, thu giữ vật chứng, niêm phong vật chứng; biên bản làm việc, ghi lời khai viết sai ngày, tháng, năm hoặc mâu thuẫn về thời gian giữa các tài liệu, thành phần tham gia… Trong trường hợp này, khi thực hiện quyền yêu cầu, KSV có thể yêu cầu trực tiếp với Cơ quan điều tra (CQĐT) hoặc thông qua yêu cầu điều tra để nêu rõ thiếu hoặc chưa thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng nào, ở trang tài liệu nào, phương pháp và cách thức khắc phục ra sao. Yêu cầu đặt ra là lập biên bản mới; nếu sửa chữa thì phải chỉ rõ cụ thể là sửa chữa như thế nào. Nếu có sự mâu thuẫn về không gian, thời gian, địa điểm của các văn bản tố tụng thì nêu rõ mâu thuẫn ở biên bản nào, lời khai nào để yêu cầu khắc phục. Đây là thủ tục bắt buộc để xem xét có hay không vi phạm hoặc vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hình sự. Các trường hợp cụ thể được coi là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng được liệt kê tại khoản 1 Điều 6 Thông tư liên tịch số 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP quy định việc phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
Về thực hiện quyền yêu cầu khi xét, phê chuẩn các lệnh, quyết định tố tụng
Kiểm sát viên kiểm tra tài liệu, xem xét căn cứ khi xét, phê chuẩn các lệnh, quyết định tố tụng đã đầy đủ và đúng quy định chưa, có cần bổ sung thêm nội dung gì nữa không. Trường hợp còn băn khoăn về chứng cứ, tội danh thì có thể yêu cầu CQĐT bổ sung, tài liệu, chứng cứ hoặc báo cáo lãnh đạo Viện cho ý kiến chỉ đạo theo đúng quy định tại Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 19/10/2018 quy định về phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (Thông tư liên tịch số 04/2018). Trong giai đoạn điều tra, CQĐT phải thực hiện yêu cầu của VKS theo quy định tại Điều 167 BLTTHS năm 2015, cụ thể:
Đối với lệnh, quyết định của Thủ trưởng CQĐT đã gửi đến VKS mà phát hiện có căn cứ cần thay đổi hoặc hủy bỏ thì yêu cầu Thủ trưởng CQĐT ra quyết định thay đổi hoặc có văn bản đề nghị VKS hủy bỏ; trường hợp CQĐT không đồng ý thì VKS xem xét, quyết định việc thay đổi hoặc hủy bỏ theo quy định của BLTTHS.
Đối với lệnh, quyết định của Phó Thủ trưởng CQĐT đã gửi đến VKS mà phát hiện có căn cứ cần thay đổi hoặc hủy bỏ thì yêu cầu Thủ trưởng CQĐT ra quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ; trường hợp CQĐT không đồng ý thì Viện kiểm sát xem xét, quyết định việc thay đổi hoặc hủy bỏ theo quy định của BLTTHS.
Đối với lệnh, quyết định của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT đã được VKS phê chuẩn mà VKS phát hiện có căn cứ cần thay đổi hoặc hủy bỏ, thì Viện trưởng VKS trao đổi với Thủ trưởng CQĐT trước khi xem xét, quyết định việc thay đổi hoặc hủy bỏ.
Sau khi hủy bỏ, nếu thấy cần ra lệnh, quyết định khác thì VKS có văn bản yêu cầu CQĐT ra lệnh, quyết định để VKS phê chuẩn. Trường hợp CQĐT không thực hiện thì VKS xem xét, quyết định theo thẩm quyền; trong trường hợp bị can trốn hoặc không biết bị can đang ở đâu mà CQĐT không ra quyết định truy nã thì VKS phải kịp thời yêu cầu CQĐT ra quyết định truy nã bị can theo quy định tại Điều 161 BLTTHS năm 2015.
Về thực hiện quyền yêu cầu điều tra để làm rõ đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự
Trong quá trình tố tụng, đối với vụ án hình sự, KSV đề ra yêu cầu điều tra, yêu cầu CQĐT chứng minh những vấn đề quy định tại Điều 85 BLTTHS năm 2015, cụ thể: Sự kiện phạm tội (thời gian, địa điểm, phương pháp và những tình tiết khác của việc thực hiện tội phạm); lỗi của người thực hiện tội phạm, hình thức lỗi và động cơ phạm tội; những tình tiết về nhân thân bị can; tính chất và mức độ thiệt hại do tội phạm gây ra; những tình tiết loại trừ tội phạm và hình phạt đối với hành vi (ví dụ: Phòng vệ chính đáng, sự kiện bất ngờ, tình thế cấp thiết, tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự, gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội…), những tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự; những tình tiết có thể dẫn đến việc miễn truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt (đây là nội dung mới so với BLTTHS năm 2003 nhằm bảo đảm khách quan, chống oan, sai). Ngoài ra, cũng phải yêu cầu CQĐT xác định những tình tiết là điều kiện dẫn đến việc thực hiện tội phạm. Việc làm rõ nguyên nhân, điều kiện phạm tội là một nội dung mới thuộc các vấn đề phải chứng minh, là yêu cầu bắt buộc trong giải quyết vụ án hình sự, một nội dung cần được đánh giá trong bản kết luận điều tra, bản cáo trạng và ban hành kiến nghị phòng ngừa tội phạm.
Đối với những vụ án có chủ thể là người dưới 18 tuổi hay trong vụ án mà người thực hiện hành vi phạm tội trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc sau khi thực hiện tội phạm trong tình trạng tâm thần thì KSV cần yêu cầu CQĐT làm rõ thêm: Tuổi và ngày, tháng, năm sinh của họ; điều kiện sống và giáo dục, mức độ phát triển về tâm sinh lý và những đặc điểm khác về nhân thân của họ; ảnh hưởng của người lớn đối với người chưa thành niên. Nếu tài liệu chứng minh về sự chậm phát triển tâm sinh lý không liên quan đến rối loạn tâm thần thì cần yêu cầu trưng cầu giám định xác định xem người đó có nhận thức đầy đủ về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và điều khiển được hành vi của mình hay không.
Đây là những vấn đề cần chứng minh có ý nghĩa đánh giá sâu về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, quyết định khung hình phạt, mức hình phạt và giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự (nếu có).
Về thực hiện quyền yêu cầu trong bổ sung, làm rõ chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án
Tùy theo từng giai đoạn mà quyền yêu cầu bổ sung, làm rõ chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án sẽ khác nhau. Trong giai đoạn điều tra, KSV trực tiếp kiểm sát hồ sơ nhận thấy các tài liệu trong hồ sơ thiếu chứng cứ để chứng minh một trong số những vấn đề được quy định tại Điều 85, Điều 441 BLTTHS năm 2015 mà không thể giải quyết vụ án được khách quan, toàn diện, đúng pháp luật thì có thể ban hành yêu cầu điều tra để làm rõ. Trước khi ban hành yêu cầu điều tra (hoặc yêu cầu điều tra bổ sung), KSV phải nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án, đánh giá từng tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, như:  Kết luận giám định, kết luận định giá tài sản, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản ghi lời khai bị can và những người tham gia tố tụng khác, các tài liệu về đặc điểm nhân thân của bị can…, đối chiếu với các dấu hiệu cấu thành tội phạm, những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự, từ đó xác định các vấn đề còn chưa rõ, chưa đầy đủ, có mâu thuẫn, làm cơ sở cho việc lập bản yêu cầu điều tra.
Kiểm sát viên yêu cầu Điều tra viên (ĐTV) thực hiện tốt việc chuyển giao tài liệu, chứng cứ mà hoạt động điều tra không có KSV tham gia theo khoản 5 Điều 88 BLTTHS năm 2015 để kiểm sát; đây cũng là cách thức để nắm chắc tiến độ điều tra của ĐTV nhằm phát hiện những mâu thuẫn trong các lời khai, bản cung, những vấn đề chưa được làm rõ hoặc còn thiếu, để từ đó trao đổi trực tiếp với ĐTV hoặc bổ sung yêu cầu điều tra để ĐTV thực hiện.
Ngoài ra, KSV cần lưu ý thường xuyên theo dõi, nắm chắc tiến độ điều tra, nghiên cứu kỹ tài liệu chứng cứ do ĐTV thu thập, chủ động phối hợp với ĐTV làm rõ những vấn đề cần chứng minh ngay trong giai đoạn điều tra vụ án đơn cử như trong những vụ án có người bào chữa (Điều 72 BLTTHS năm 2015), người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự (Điều 84 BLTTHS năm 2015), có nhiều đơn thư khiếu nại về chứng cứ chứng minh vụ án hoặc khiếu nại quá trình tiến hành tố tụng thì KSV cần nghiên cứu kỹ nội dung các đơn thư, tài liệu mà họ xuất trình, các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện việc kêu oan của bị can, phản ánh của bị hại…; các biên bản, tài liệu liên quan đến hoạt động điều tra mà bị can, bị hại khiếu nại; từ đó xem xét việc kêu oan, khiếu nại của bị can, bị hại là có căn cứ hay không, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã đủ cơ sở để kết luận chấp nhận hay không chấp nhận việc kêu oan, khiếu nại của bị can, bị hại chưa; nếu chưa đủ cơ sở để kết luận thì KSV có thể trực tiếp hỏi cung bị can làm rõ, bổ sung hoặc ban hành yêu cầu điều tra yêu cầu CQĐT làm rõ những nội dung, luận cứ mà bị can, bị hại đưa ra.
Khó khăn, vướng mắc
Hiện nay, một số đạo luật còn có nhiều điểm chưa có hướng dẫn cụ thể, và còn nhiều vướng mắc, các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật có liên quan chậm được rà soát sửa đổi ban hành, nhiều quy định còn có nhận thức khác nhau giữa các cơ quan tiến hành tố tụng nhưng chưa được Liên ngành cơ quan tư pháp cấp trên hướng dẫn kịp thời gây khó khăn trong quá trình thực hiện quyền yêu cầu của Viện kiểm sát đơn cử:
Thứ nhất, Về quyền kiến nghị, yêu cầu, công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết vụ án hình sự còn tồn tại khó khăn, vướng mắc, cụ thể: Luật Tổ chức VKSND năm 2014 không quy định thời hạn trả lời yêu cầu, kiến nghị của Viện kiểm sát.
Tại Điều 6 BLTTHS năm 2015 quy định: “Cơ quan, tổ chức phải thực hiện yêu cầu, kiến nghị của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu, kiến nghị, cơ quan, tổ chức hữu quan phải trả lời bằng văn bản về việc thực hiện yêu cầu, kiến nghị của cơ quan có thẩm quyền tố tụng”. Khoản 2 Điều 237 BLTTHS năm 2015 lại quy định: “Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu, kiến nghị quy định tại điểm a và b Điều này, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo việc thực hiện yêu cầu, kiến nghị cho Viện kiểm sát”. Như vậy, BLTTHS không thống nhất về thời hạn trả lời kết quả thực hiện yêu cầu, kiến nghị của Viện kiểm sát đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong khi Luật Tổ chức VKSND năm 2014 lại không có quy định về nội dung này .
Đồng thời, khi phát hiện việc khởi tố, điều tra của CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra không đầy đủ, vi phạm pháp luật, Viện kiểm sát có thể kiến nghị hoặc yêu cầu theo quy định tại Khoản 6 Điều 166 BLTTHS năm 2015 quy định Viện kiểm sát có quyền “kiến nghị, yêu cầu CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khắc phục vi phạm trong việc khởi tố, điều tra”. Tuy nhiên, hiện nay pháp luật chưa quy định cụ thể trường hợp nào Viện kiểm sát kiến nghị, trường hợp nào Viện kiểm sát yêu cầu CQĐT khắc phục vi phạm pháp luật?
Thứ hai, Luật Tổ chức VKSND 2014 và BLTTHS năm 2015 đã quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong quá trình thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Song hiện nay có một số quy định vẫn chưa cụ thể, rõ ràng, văn bản hướng dẫn chưa rõ ràng nên khó khăn trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình. Ví dụ: BLTTHS năm 2015, Thông tư liên tịch số 04/2018, mặc dù đã quy định trách nhiệm của CQĐT thực hiện yêu cầu của Viện kiểm sát (các điều 162, 167 BLTTHS năm 2015; Điều 11 Thông tư liên tịch số 04/2018) nhưng chưa đồng bộ và thống nhất đơn cử như trường hợp Viện kiểm sát yêu cầu bổ sung tài liệu, chứng cứ để xét phê chuẩn quyết định khởi tố bị can thì BLTTHS năm 2015 và Thông tư liên tịch số 04/2018 không quy định thời hạn thực hiện và trả lời (Điều 179 BLTTHS năm 2015; Điều 10 Thông tư liên tịch số 04/2018). Đồng thời Luật tổ chức VKSND năm 2014 cũng không quy định trách nhiệm và thời hạn CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải xem xét, thực hiện, trả lời yêu cầu của Viện kiểm sát trong giai đoạn khởi tố và điều tra. Việc không quy định đầy đủ thời hạn CQĐT thực hiện và trả lời yêu cầu của Viện kiểm sát khiến quá trình giải quyết vụ việc thiếu kịp thời, chưa hiệu quả, gây khó khăn cho công tác theo dõi, kiểm sát việc thực hiện yêu cầu. Ngoài ra, luật, Thông tư liên tịch cũng chưa quy định rõ ràng chế tài xử lý đối với CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Điều tra viên, Cán bộ điều tra chậm thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc không thực hiện yêu cầu của Viện kiểm sát. Điều này làm ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu lực, hiệu quả các yêu cầu của Viện kiểm sát.
Đề xuất, Kiến nghị hoàn thiện
 Một là, Đề nghị sửa đổi Luật Tổ chức VKSND năm 2014 nên quy định thời hạn trả lời yêu cầu, kiến nghị của Viện kiểm sát; khắc phục sự mâu thuẫn về thời hạn trả lời kết quả thực hiện yêu cầu, kiến nghị của Viện kiểm sát đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân tại Điều 6 và Khoản 2 Điều 237 BLTTHS năm 2015. Liên ngành trung ương cần giải thích, hướng dẫn việc thực hiện phân định rõ trường hợp Viện kiểm sát thực hiện quyền yêu cầu và trường hợp phải kiến nghị khắc phục vi phạm pháp luật.
Hai là, đề xuất bổ sung vào Điều 167 và Điều 179 BLTTHS năm 2015, Điều 10 Thông tư liên tịch số 04/2018 nội dung: “Đối với yêu cầu bổ sung tài liệu, chứng cứ để xét phê chuẩn quyết định khởi tố bị can của Viện kiểm sát, CQĐT - phải thực hiện trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu. Nếu không bổ sung được thì CQĐT phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do”: bổ sung vào các điều 162, 167 BLTTHS năm 2015 và khoản 1 Điều 6 Thông tư liên tịch số 04/2018 nội dung: “Yêu cầu khởi tố của Viện kiểm sát phải được CQĐT thực hiện trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu" và bổ sung Luật tổ chức VKSND năm 2014 theo hướng quy định về trách nhiệm, thời hạn CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải xem xét, thực hiện, trả lời các yêu cầu của Viện kiểm sát trong giai đoạn khởi tố và điều tra các vụ án hình sự nhằm bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất của pháp luật và hiệu quả của hoạt động xác minh, điều tra. Việc hoàn thiện các quy định nêu trên là cơ sở để Viện kiểm sát xem xét, quyết định các biện pháp xử lý tiếp theo khi hết thời hạn mà CQĐT hoặc Điều tra viên chưa thực hiện yêu cầu.
Đồng thời, nhằm nâng cao trách nhiệm của CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Điều tra viên, Cán bộ điều tra và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả các yêu cầu của Viện kiểm sát được thực hiện nghiêm trên thực tiễn nên quy định rõ chế tài xử lý trong BLTTHS năm 2015, Thông tư liên tịch số 01/2017 và Thông tư liên tịch số 04/2018 đối với trường hợp CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Điều tra viên, Cán bộ điều tra chậm thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc không thực hiện các yêu cầu của Viện kiểm sát.

Tác giả bài viết: Lê Xuân Quang

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây