Kỷ niệm 61 năm Ngày thành lập ngành Kiểm sát
Hưởng ứng giải  Búa Liềm Vàng

Một số kỹ năng thực hiện công tác thanh tra hoạt động công vụ

Thứ hai - 12/12/2016 02:09 1.802 0
Thanh tra ngành Kiểm sát nhân dân là một bộ phận trong bộ máy của Viện kiểm sát nhân dân, có vị trí quan trọng trong công tác quản lý, xây dựng Ngành, có nhiệm vụ thực hiện các hoạt động thanh tra trong nội bộ Ngành, nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm quy định của Ngành trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ; phát hiện những hạn chế về cơ chế quản lý trong Ngành để đề xuất các biện pháp khắc phục.
Nội dung hoạt động thanh tra đa dạng và tập trung chủ yếu vào thanh tra về hoạt động nghiệp vụ, công vụ, trong đó: hoạt động thanh tra công vụ trong ngành Kiểm sát nhân dân là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định và quy chế, quy định của Ngành đối với việc chấp hành các quy định về tổ chức cán bộ; việc chấp hành các quy định về quản lý tài chính, tài sản công (các điều kiện bảo đảm cho hoạt động nghiệp vụ); việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, phòng, chống tham nhũng, Quy chế dân chủ trong hoạt động của Viện KSND.
 
Dưới đây là một số kỹ năng trong khi thực hiện công tác thanh tra hoạt động công vụ:

1. Thu thập tài liệu, chứng cứ.
Thu thập, tài liệu chứng cứ là khâu có tính quyết định để làm rõ nội dung cuộc thanh tra hành chính, góp phần nâng cao chất lượng cuộc thanh tra, đảm bảo cho kết luận thanh tra được toàn diện, đầy đủ, đúng đắn, khách quan.

1.1. Xác định nguồn tài liệu, chứng cứ cần thu thập.
Đầu tiên, chúng ta phải xác định được tài liệu, chứng cứ nào cần thu thập, phục vụ được cho Kết luận thanh tra, để làm tốt việc thu thập tài liệu, chứng cứ cần bám sát 03 vấn đề sau:
Một là: Mục đích, yêu cầu và nội dung của cuộc thanh tra.
Xác định đúng thẩm quyền, phạm vi và nội dung thanh tra: Khi nghiên cứu nội dung cuộc thanh tra phải xác định được phạm vi của nội dung, xác định rõ đối tượng, thẩm quyền đối với cuộc thanh tra sẽ tiến hành để tránh vi phạm trong hoạt động thanh tra. Trường hợp phát hiện vấn đề nằm ngoài phạm vi của Kế hoạch thanh tra nhưng có liên quan đến nội dung Kết luận thanh tra thì Đoàn thanh tra báo cáo người ra Quyết định thanh tra và chỉ khi được sự đồng ý của người quyết định thanh tra thì mới tiến hành nội dung mở rộng. Phạm vi về nội dung thanh tra được nêu trong Kế hoạch; trong Quyết định thanh tra cũng luôn giới hạn rõ các vấn đề:
- Thời điểm thanh tra: Thường lấy trùng với năm công tác, đối với cuộc thanh tra đột xuất thì có thể theo vụ việc cần làm rõ, vụ việc kéo dài bao nhiêu lâu thì tiến hành thanh tra bấy nhiêu thời gian.
- Nội dung cần thanh tra, là kết quả công tác của đối tượng thanh tra trong khoảng thời gian nhất định, ví dụ: việc chấp hành pháp luật trong công tác thực hiện Quy chế dân chủ tại đơn vị...    
- Đối tượng thanh tra: Có thể là tập thể hay cá nhân được thanh tra.
Hai là: chuẩn bị kỹ về văn bản pháp luật, Quy định, Quy chế của Ngành.
Do chức năng của thanh tra, không thực hiện hướng dẫn đối tượng thanh tra trong việc thực hiện nhiệm vụ như đối với chức năng của kiểm tra; mà chỉ căn cứ vào văn bản pháp luật, quy định của Ngành để nhận xét, đánh giá kết quả công tác của đối tượng thanh tra; cho nên Đoàn thanh tra phải chuẩn bị đầy đủ, nghiên cứu kỹ nội dung quy định của pháp luật và của Ngành về nội dung sẽ được thanh tra để có định hướng tốt trong việc thu thập tài liệu, chứng cứ.
Về nguyên tắc, phạm vi quản lý đến đâu thì phạm vi thanh tra đến đó; phạm vi quản lý Ngành khá rộng nên lĩnh vực thanh tra cũng rộng tương ứng; việc tập hợp và nghiên cứu văn bản liên quan đòi hỏi nỗ lực lớn của Đoàn thanh tra. Khi nghiên cứu văn bản liên quan, Thanh tra cần có sự phối hợp tốt với các đơn vị có liên quan. Ví dụ khi thanh tra về việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí hoặc công tác quản lý tài chính, tài sản công thì ngoài việc tự sưu tầm văn bản, có thể phối hợp với bộ phận kế hoạch, tài chính để có thể nắm rõ thêm các văn bản chỉ đạo trong Ngành về lĩnh vực cần thanh tra.
Vì nội dung thanh tra luôn luôn là quá trình hoạt động công tác của đối tượng thanh tra trong thời giab đã xảy ra cho nên khi nghiên cứu cần chú ý tính hiệu lực của văn bản phải đang có hiệu lực áp dụng đối với nội dung và thời điểm thanh tra, không phải văn bản có hiệu lực hiện hành.
Ba là: Dự kiến kế hoạch thu thập tài liệu, chứng cứ
Việc thu thập tài liệu chứng cứ để phục vụ Kết luận thanh tra cũng cần được dự kiến trước nhằm nâng cao tính chủ động, tính tập trung trong hoạt động thanh tra, đảm bảo thời gian tiến hành thanh tra đúng tiến độ. Tài liệu, chứng cứ trong lĩnh vực thanh tra hành chính cũng tương đối rộng về phạm vi, lớn về số lượng. Tuy nhiên có thể khái quát các nhóm sau:
- Nhóm văn bản chỉ đạo, điều hành của Viện KSND tối cao, của thủ trưởng đơn vị được thanh tra. Ví dụ các quy chế, quy định do đối tượng thanh tra xây dựng; các biên bản hội họp của tập thể lãnh đạo, Ban cán sự đảng, cơ quan được thanh tra chứa đựng việc triển khai công tác, những báo cáo của cấp dưới, những chỉ đạo, kết luận của người đứng đầu.   
- Nhóm tài liệu thể hiện hoạt động công vụ của đối tượng thanh tra: Đây là nhóm chủ yếu nhất, trực tiếp nhất để đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ của đối tượng thanh tra và việc thu thập các tài liệu này phải hướng tới việc đạt được mục đích của cuộc thanh tra cụ thể.
- Nhóm tài liệu do thanh tra sẽ tiến hành xác minh, kiểm tra thực tế. Đó là các biên bản làm việc với cơ quan, tổ chức, cá nhân biết hoặc lưu giữ thông tin liên quan đến nội dung thanh tra. Ví dụ: Nhận xét đánh giá của cấp ủy quản lý đối tượng thanh tra; Cửa hàng xuất hóa đơn bán hàng cho đối tượng thanh tra, v.v... Đoàn thanh tra cũng có thể tiến hành kiểm chứng thực tế.
Để có thể dự liệu các tài liệu, chứng cứ cần thu thập đòi hỏi Đoàn thanh tra có hiểu biết nhất định về hoạt động công tác của đối tượng. Cần tập trung vào nhóm tài liệu trực tiếp với nội dung thanh tra trước, sau đó mới thu thập các tài liệu bổ sung.
Chất lượng cuộc thanh tra phụ thuộc nhiều vào bản lĩnh, kỹ năng của người tiến hành thanh tra vì vậy, công chức thanh tra phải luôn tu dưỡng, học tập nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ, bản lĩnh nghề nghiệp để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

1.2. Yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ
- Trưởng đoàn, thành viên Đoàn thanh tra được sử dụng nhiều quyền hạn theo quy định của pháp luật về thanh tra, Quy chế công tác thanh tra để có tài liệu, chứng cứ. Cụ thể là:
+ Yêu cầu đối tượng thanh tra báo cáo, giải trình về những vấn đề liên quan; giải trình làm rõ nguyên nhân và trách nhiệm về những thiếu sót, vi phạm trong công tác tuyển dụng công chức, viên chức. Trong trường hợp giải trình của đơn vị, cá nhân chưa rõ, cần tiến hành tổ chức đối thoại, chất vấn để làm rõ. Khi tổ chức đối thoại, chất vấn phải lập biên bản, ghi đầy đủ, chính xác những sự việc các bên đã trao đổi; trường hợp cần thiết thì ghi âm lại toàn bộ cuộc đối thoại, chất vấn.
+ Yêu cầu cung cấp tài liệu. Bên cạnh báo cáo theo đề cương của Đoàn thanh tra, đối tượng thanh tra cần cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan đến nội dung thanh tra và nội dung báo cáo.
+ Làm việc với cơ quan, đơn vị, cá nhân nắm giữ thông tin, tài liệu để thu thập hoặc xác nhận thông tin đó.
- Giao nhận tài liệu: Chứng cứ dưới dạng tài liệu có thể được thu thập bản gốc hoặc bản sao. Nếu thu thập bản sao tài liệu thì cần đối chiếu nội dung với bản gốc; bản sao cần có chữ ký của người cung cấp, người thu thập, ngày giao nhận hoặc có biên bản giao nhận kèm theo.  
- Xác nhận nội dung tài liệu:
+ Trong trường hợp tài liệu chứa đựng nhiều nội dung thông tin nhưng không cần, hoặc không thể thu giữ tất cả tài liệu đó thì có thể trích sao phần nội dung chứa đựng thông tin làm chứng cứ và có biên bản xác nhận của người cung cấp và người thu nhận thông tin. Ví dụ: trong một Biên bản Hội nghị cán bộ, công chức, chỉ cần thu thập đoạn nội dung về công khai tài chính thì có thể trích sao phần đầu biên bản, nội dung cần thu thập.
+ Trong trường hợp tài liệu bị mất trang, mất chữ, quá cũ nát, quá mờ không đọc được chính xác nội dung thì người tiếp nhận tài liệu phải ghi rõ tình trạng của tài liệu đó có xác nhận của người cung cấp trong giấy biên nhận.
+ Một số thông tin, nhận xét, đánh giá của người đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với đối tượng thanh tra cung cấp cho Đoàn thanh tra thì cần ghi nhận thành văn bản, có chữ ký hai bên.

2. Kỹ năng khai thác nội dung tài liệu, chứng cứ.
- Chứng cứ trong hoạt động thanh tra là những gì có thật được thu thập trong quá trình thanh tra, dùng làm căn cứ để kết luận vụ việc một cách khách quan và đúng quy định của pháp luật. Cũng giống như chứng cứ trong hoạt động tố tụng, chứng cứ trong hoạt động thanh tra phải có tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp. Tính khách quan của chứng cứ bị lệ thuộc rất nhiều vào nhân tố chủ quan của người thu thập chứng cứ (thành viên Đoàn thanh tra), vì vậy đòi hỏi thành viên Đoàn thanh tra phải có tính trung thực, không thiên lệch, nhận thức sự thật, lẽ phải, có ý thức trách nhiệm nghề nghiệp, danh dự và trí tuệ. Tính liên quan trong chứng cứ không tồn tại như sự việc đơn độc mà thường là hệ thống, nên không thể chỉ căn cứ vào một vài biểu hiện rời rạc mà cần xem xét hệ thống những sự việc xen kẽ nhau, liên quan chặt chẽ với nhau. Tính hợp pháp thể hiện chứng cứ được thu thập đảm bảo đúng thẩm quyền, đúng thời gian thanh tra, trong phạm vi nội dung và thời điểm thanh tra. Nếu hết thời gian ghi trong Quyết định thanh tra mà cần thu thập thêm chứng cứ thì cần gia hạn thời hạn thanh tra để đảm bảo tính hợp pháp của chứng cứ.
- Phương pháp khai thác tài liệu, chứng cứ thuộc về kỹ năng, kinh nghiệm của mỗi công chức thanh tra. Trong một hệ thống các tài liệu, chứng cứ thì đọc tài liệu nào trước, tài liệu nào sau. Khái quát lại có thể sử dụng các phương pháp sau:
+ Đi từ tổng hợp đến chi tiết, từ cái chung đến cái riêng. Ví dụ thanh tra việc thực hiện kinh phí thì đọc Báo cáo của đối tượng thanh tra trước, từ đó tìm ra mâu thuẫn, nội dung chưa rõ; sau đó đọc sổ sách kế toán, rồi đến các khoản mục chỉ, các các chứng từ chi. Phương pháp này nhanh, dễ làm nhưng dễ bỏ sót chi tiết; chỉ nên áp dụng đối với những việc có tính vĩ mô.
+ Đi từ chi tiết đến tổng hợp. Phương pháp này ngược lại với phương pháp trên, kiểm tra được đầy đủ hơn, chi tiết hơn nhưng mất nhiều thời gian và khó làm.
+ Đi thẳng vào vấn đề cụ thể, cần giải quyết. Phương pháp này tránh được tản mạn, nhanh nhưng muốn vậy, phải nắm bắt được vấn đề từ trước. Có thể thông qua dư luận phản ánh, thông qua các dấu hiệu vi phạm nên thường áp dụng trong thanh tra đột xuất, thẩm tra, xác minh trong giải quyết khiếu nại, tố cáo, còn trong thanh tra kế hoạch thì thường kết hợp hai phương pháp trên.
- Trong một số nội dung thanh tra, ví dụ như việc tuyển dụng, việc thực hiện đề án mua sắn tài sản thường có 02 nhóm tài liệu: Nhóm tài liệu về thủ tục và nhóm tài liệu về nội dung: Trường hợp này nên khai thác theo từng nhóm để tránh bỏ sót, nhóm nào trước cũng được.

3. Kỹ năng đánh giá chứng cứ.
- Đánh giá chứng cứ là xem xét giá trị chứng minh của chứng cứ về vấn đề cần thanh tra nhằm đưa ra nhận xét, kết luận, kiến nghị một cách đúng đắn, khách quan và đúng pháp luật.  Tài liệu làm chứng cứ phải đảm bảo tính khách quan, liên quan và hợp pháp. Cần thu thập đầy đủ nhất có thể để việc đánh giá không bị phiến diện; đánh giá cả những mặt ưu điểm, mặt khuyết điểm, vi phạm. Khi có sự mẫu thuẫn giữa các chứng cứ thì tìm chứng cứ khác bổ sung, làm rõ, không được sử dụng những chứng cứ chưa rõ, chưa được kiểm tra để kết luận.
- Khi đánh giá chứng cứ, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ của đối tượng thanh tra phải lấy căn cứ pháp luật và các văn bản quản lý, chỉ đạo, điều hành làm tiêu chuẩn; tuyệt đối không đánh giá theo góc độ chủ quan.
- Thực tiễn vô cùng phong phú, có những hoạt động chưa được điều chỉnh dưới góc độ văn bản quản lý thì Đoàn thành tra cần nên tập hợp, nghiên cứu để tham mưu với Viện trưởng xem xét, quyết định điều chỉnh trong phạm vi thẩm quyền.

MỘT SỐ VĂN BẢN PHÁP LUẬT CẦN THIẾT KHI THỰC HIỆN CÔNG TÁC THANH TRA CÔNG VỤ.
- Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014;
- Luật cán bộ, công chức năm 2008;
- Luật viên chức năm 2010;
- Quy chế tổ chức và hoạt động của Thanh tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành kèm theo Quyết định số 21/QĐ-VKS-T1 ngày 20/11/2015;
- Quy chế công tác thanh tra trong ngành Kiểm sát nhân dân ban hành kèm theo Quyết định số 59/QĐ-VKS-T1 ngày 22/02/2016;
- Quy chế công tác kiểm tra trong ngành Kiểm sát nhân dân ban hành kèm theo Quyết định số 160/QĐ-VKS-T1 ngày 30/3/2016;
- Quy chế về thực hiện dân chủ trong hoạt động của Viện kiểm sát nhân ban hành kèm theo Quyết định số 161/QĐ-VKS-T1 ngày 30/3/2016;
- Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của Ngành kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai ban hành kèm theo Quyết định số 638/QĐ-VKS-P9 ngày 05/6/2015;
- Quy định về xử lý kỷ luật trong ngành Kiểm sát nhân dân ban hành kèm theo Quyết định số 183/QĐ-VKS-T1 ngày 04/4/2016;
- Quy chế phân cấp quản lý công chức, viên chức và người lao động trong ngành KSND ban hành kèm theo Quyết định số 02/QĐ-VKSTC-V15 ngày 22/12/2015;
- Quy chế Đánh giá, phân loại công chức, viên chức và người lao động trong ngành Kiểm sát nhân dân ban hành kèm theo Quyết định số 06/QĐ-VKSTC-V15 ngày 22/12/2015;
- Quy chế về công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong ngành KSND ban hành kèm theo Quyết định số 05/QĐ-BCSĐ ngày 01/4/2008 của Ban cán sự đảng Viện KSND tối cao;
- Quyết định số 358/QĐ-VKSTC-T1 ngày 18/8/2016 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc ban hành tạm thời hệ thống biểu mẫu nghiệp vụ về công tác thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của thanh tra viện kiểm sát nhân dân
- Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/2010 của Chính Phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức;
- Nghị định số 29/2012/NĐ-CP ngày 12 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ về tuyển dụng viên chức;
- Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính phủ quy định về thực hiện chế độ hợp đồng một số loại công việc trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp;
- Thông tư số 13/2010/TT-BNV ngày 30/12/2010 của Bộ Nội vụ (sửa đổi bởi Thông tư 05/2012/TT-BNV ngày 24/10/2012) quy định chi tiết một số điều về tuyển dụng và nâng ngạch công chức;
- Thông tư số 01/2015/TT-VKSTC ngày 30/12/2015 của Viện KSND tối cao quy định về quản lý, sử dụng trang phục, Giấy chứng minh KSV, Giấy chứng nhận ĐTV, KTV trong ngành KSND;
- Hướng dẫn số 19/HD-VKSTC-V9 ngày 28/02/2013 của Viện KSND tối cao về việc thực hiện biên chế.
- Quy chế văn hóa công sở tại các cơ quan hành chính nhà nước ban hành kèm theo Quyết định số 129/2007/QĐ-TTg ngày 02/8/2007 của Thủ tướng Chính phủ;
- Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức ngành Kiểm sát nhân dân ban hành kèm theo Quyết định số 296/2008/QĐ-VKSTC ngày 18/6/2008 của Viện trưởng VKSND tối cao;
- Chỉ thị số 05/VKSTC-TTr ngày 31/3/2014 của Viện trưởng VKSND tối cao về tăng cường kỷ cương, kỷ luật công vụ và trật tự nội vụ trong ngành Kiểm sát nhân dân.
- Công chức là đảng viên, ngoài việc thực hiện quy định của pháp luật và của Ngành, còn phải thực hiện về những điều đảng viên không được làm theo Quy định số 47-QĐ/TW ngày 01/11/2011 của Ban Chấp hành Trung ương.

Kết luận: Để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thanh tra ngành Kiểm sát nhân dân nói chung và thanh tra về hoạt động công vụ nói nói riêng, góp phần tích cực vào việc giữ vững kỷ cương, kỷ luật, đảm bảo hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động quản lý, xây dựng ngành Kiểm sát nhân dân trong sạch, vững mạnh, đòi hỏi cán bộ làm công tác thanh tra phải đáp ứng đầy đủ những yêu cầu về phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống và kỹ năng nghiệp vụ công tác. Vì vậy, mỗi cán bộ làm công tác thanh tra cần phải thường xuyên trau dồi phẩm chất chất chính trị, đạo đức cách mạng; thường xuyên học tập nâng cao trình độ lý luận, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng, thao tác nghiệp vụ.

 

Tác giả bài viết: Trịnh Duy Dũng - Nguyễn Minh Trung

Tổng số điểm của bài viết là: 13 trong 3 đánh giá

Xếp hạng: 4.3 - 3 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

TRUYỀN HÌNH KIỂM SÁT
Mail công vụ
Thống Kê Truy Cập
  • Đang truy cập34
  • Máy chủ tìm kiếm1
  • Khách viếng thăm33
  • Hôm nay2,098
  • Tháng hiện tại11,376
  • Tổng lượt truy cập163,503
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây