16:13 +07 Thứ sáu, 13/12/2019
CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH DẠY KIỂM SÁT VIÊN PHẢI : " CÔNG MINH, CHÍNH TRỰC, KHÁCH QUAN, THẬN TRỌNG, KHIÊM TỐN ".                                                                                                                                               VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI HƯỞNG ỨNG CUỘC VẬN ĐỘNG: XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, KIỂM SÁT VIÊN : "VỮNG VỀ CHÍNH TRỊ, GIỎI VỀ NGHIỆP VỤ, TINH THÔNG VỀ PHÁP LUẬT, CÔNG TÂM VÀ BẢN LĨNH, KỶ CƯƠNG VÀ TRÁCH NHIỆM ".

TRANG LIÊN KẾT

Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai
Học tập tư tưởng HCM
Cổng thông tin điện tử Gia lai
Tạp chí Kiểm sát
tỉnh ủy gia lai
baovepl
Kiểm sát viên cần biết
Thông báo tuyển dụng công chức
mail công vụ

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang truy cậpĐang truy cập : 12

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 11


Hôm nayHôm nay : 642

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 14804

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 1347437

Trang nhất » Tin Tức Chung » Tin ngành kiểm sát

Kỷ niệm 60 năm ngày thành lập ngành Kiểm sát
Hưởng ứng giải Búa liềm vàng : giải báo chí toàn quốc về xây dựng Đảng

Nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong giai đoạn truy tố và vấn đề nâng cao chất lượng bản cáo trạng

Thứ hai - 27/03/2017 13:51
Theo quy định của Hiến pháp năm 2013 thì VKSND có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Thể chế hóa quy định này, Luật Tổ chức VKSND năm 2014 và BLTTHS năm 2015 đã có những quy định rất cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong từng giai đoạn tố tụng hình sự.

Để nắm và hiểu rõ hơn các quy định của pháp luật về vấn đề này, bài viết trao đổi về những nhiệm vụ, quyền hạn của VKS mới được quy định trong giai đoạn truy tố và một số ý kiến về nâng cao chất lượng bản cáo trạng do Viện kiểm sát ban hành.

Kiểm sát viên công bố cáo trạng – Ảnh Internet

Nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong giai đoạn truy tố

Giai đoạn truy tố là giai đoạn tiếp theo của hoạt động tố tụng hình sự, được tính từ khi Viện kiểm sát nhận được các tài liệu hồ sơ của vụ án hình sự kèm theo bản kết luận điều tra đề nghị truy tố do Cơ quan điều tra chuyển đến và kết thúc bằng việc Viện kiểm sát ra một trong ba loại quyết định sau: Truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng; trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung; đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án.

Với tính chất là một giai đoạn độc lập của hoạt động tố tụng hình sự, trong giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể do luật định không chỉ là để kiểm tra lại kết quả của toàn bộ các quyết định tố tụng, hoạt động tố tụng mà Cơ quan điều tra có thẩm quyền đã tiến hành, tính hợp pháp, tính có căn cứ của các quyết định, hoạt động đó, mà còn bảo đảm cho quyết định của Viện kiểm sát được chính xác, khách quan, toàn diện; góp phần truy cứu trách nhiệm hình sự đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, không làm oan người vô tội và bỏ lọt tội phạm; góp phần tăng cường bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ có hiệu quả các quyền và lợi ích hợp pháp kể cả của bị can cũng như những người có liên quan trong vụ án.

Luật Tổ chức VKSND năm 2002 và BLTTHS năm 2003 không quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố và kiểm sát trong giai đoạn truy tố, nên trong thực tế đã gặp phải những khó khăn, vướng mắc hoặc lúng túng khi Viện kiểm sát áp dụng các quy định pháp luật cụ thể làm căn cứ pháp lý để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo luật định. Khắc phục tình trạng này, Luật Tổ chức VKSND năm 2014 và BLTTHS năm 2015 đã có sự đổi mới rất lớn, quy định rõ hơn không chỉ về nhiệm vụ, quyền hạn trong từng lĩnh vực công tác của ngành Kiểm sát, mà còn cả trong từng giai đoạn tố tụng hình sự, trong đó có nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố (Điều 16, Điều 17 Luật Tổ chức VKSND năm 2014 và Điều 236, Điều 237 BLTTHS năm 2015). Cụ thể, trong giai đoạn này:

– Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố là: Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can. Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu liên quan đến vụ án trong trường hợp cần thiết. Trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra nhằm kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ để quyết định việc truy tố hoặc khi Tòa án yêu cầu điều tra bổ sung mà xét thấy không cần thiết phải trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra. Quyết định khởi tố, quyết định thay đổi, quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án, bị can trong trường hợp phát hiện còn có hành vi phạm tội, người phạm tội khác trong vụ án chưa được khởi tố, điều tra. Quyết định trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để yêu cầu điều tra bổ sung. Quyết định tách, nhập vụ án; chuyển vụ án để truy tố theo thẩm quyền, áp dụng thủ tục rút gọn, áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh. Quyết định gia hạn, không gia hạn thời hạn truy tố, thời hạn áp dụng các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế. Quyết định truy tố. Quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án đối với bị can; quyết định phục hồi vụ án, quyết định phục hồi vụ án đối với bị can. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác để quyết định việc truy tố theo quy định của BLTTHS (Điều 236).

– Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm sát là: Kiểm sát hoạt động tố tụng hình sự của người tham gia tố tụng; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật; kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác để kiểm sát trong giai đoạn truy tố theo quy định của BLTTHS (Điều 237).

Những quy định trên rất quan trọng và lần đầu tiên được quy định trong Luật Tổ chức VKSND và BLTTHS, tạo cơ sở pháp lý để Viện kiểm sát tăng cường vai trò, trách nhiệm, thực hiện hiệu qủa chức năng, nhiệm vụ trong tố tụng hình sự. Với các quy định mới này, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và chức năng kiểm sát trong giai đoạn truy tố được cụ thể hóa, quy định rõ ràng, minh bạch, bảo đảm Viện kiểm sát thực hiện chức năng, nhiệm vụ một cách chủ động, đúng pháp luật, hiệu quả.

Quyết định truy tố là một trong những nhiệm vụ, quyền hạn cơ bản của Viện kiểm sát

Nhiệm vụ này đã được quy định trong Luật Tổ chức VKSND năm 2002 và BLTTHS năm 2003. Theo đó, Viện kiểm sát quyết định truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng. Đó là một văn bản tố tụng hình sự chỉ do Viện kiểm sát là cơ quan duy nhất được giao chức năng thực hành quyền công tố ban hành, có giá trị pháp lý và ý nghĩa cáo buộc bị can về những hành vi phạm tội cụ thể được quy định trong Bộ luật Hình sự.

Nội dung bản cáo trạng được quy định rất cụ thể tại Điều 167 BLTTHS năm 2003, từ 01/01/2017 là Điều 243 BLTTHS năm 2015. Tuy vậy, quá trình triển khai thực hiện nội dung bản cáo trạng theo quy định của BLTTHS năm 2003 cho thấy, những nội dung của bản cáo trạng theo quy định như vậy chưa thể hiện được đầy đủ và còn thiếu những thông tin cần thiết có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án, như: Diễn biến hành vi phạm tội; tính chất, mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra; việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; đặc điểm nhân thân của bị can; việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và việc xử lý vật chứng; nguyên nhân và điều kiện dẫn đến hành vi phạm tội… hoặc phần kết luận chưa quy định phải ghi rõ điểm của khoản trong điều luật được áp dụng. Khắc phục hạn chế này, BLTTHS năm 2015 đã bổ sung những nội dung này làm cho bản cáo trạng được đầy đủ, bảo đảm cho quá trình truy tố được chặt chẽ hơn; đánh giá được đầy đủ, đúng đắn tính chất, mức độ thiệt hại do tội phạm gây ra; giúp cho Kiểm sát viên tranh tụng, luận tội tại phiên tòa có căn cứ pháp lý, góp phần để Tòa án đưa ra phán quyết đúng pháp luật.

Bản cáo trạng là căn cứ đầu tiên để xác định phạm vi và cơ sở cho Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Bản cáo trạng phải thể hiện được tính quyền lực nhà nước, tính có căn cứ và đúng pháp luật, bảo đảm đúng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, đáp ứng đòi hỏi của nhân dân. Với những ý nghĩa và đặc trưng này của bản cáo trạng, thời gian qua, Viện kiểm sát các cấp đã có nhiều hình thức, biện pháp rất tích cực để loại văn bản tố tụng này của mình có chất lượng và hiệu quả cao. Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã xây dựng và ban hành Mẫu cáo trạng thống nhất trong toàn ngành (mẫu số 107 ban hành kèm theo Quy chế số 07). Cùng với việc triển khai thực hiện nghiêm túc theo mẫu, Viện kiểm sát các cấp còn tổ chức các đợt tập huấn, rút kinh nghiệm… để giúp cho các Kiểm sát viên Viện kiểm sát các cấp kịp thời nắm vững và khắc phục những vi phạm khi xây dựng cáo trạng trong từng vụ án cụ thể.

Tuy vậy, qua thực tiễn và nghiên cứu các văn bản rút kinh nghiệm về việc xây dựng cáo trạng của VKSND các địa phương gửi tới theo quy định, chúng tôi thấy, mặc dù về cơ bản, các bản cáo trạng đã ban hành vừa qua được xây dựng bảo đảm quy định của pháp luật về nội dung, mẫu văn bản tố tụng, nhưng cũng còn không ít bản cáo trạng chưa đảm bảo. Nhằm đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp, góp phần nâng cao chất lượng công tác và vị thế của ngành Kiểm sát nhân dân, theo chúng tôi, việc nâng cao chất lượng của bản cáo trạng vẫn là một trong những nhiệm vụ có ý nghĩa rất thiết thực mà Viện kiểm sát các cấp cần tập trung chỉ đạo và thực hiện trong thời gian tới.

Một số vấn đề cần chú ý để nâng cao chất lượng bản cáo trạng

Thứ nhất: Bản cáo trạng phải bảo đảm được đầy đủ những nội dung cần có theo quy định tại Điều 243 BLTTHS năm 2015; việc xây dựng bản cáo trạng phải thực hiện đầy đủ, đúng các quy trình đã được hướng dẫn và quy định trong các quy chế nghiệp vụ của ngành từ việc nghiên cứu hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra do Cơ quan điều tra chuyển tới, đến việc viết dự thảo, chỉnh sửa dự thảo và trình lãnh đạo Viện phê duyệt cáo trạng; nhất là việc nghiên cứu hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra.

Theo quy định của pháp luật và sự phân công của ngành, thì người thực hiện nội dung các quy trình nêu trên chủ yếu là những Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, các đồng chí lãnh đạo đơn vị đã được phân công trực tiếp thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra hoặc trực tiếp chỉ đạo việc giải quyết vụ án hình sự đó. Việc nắm vững nội dung cũng như các diễn biến khác có liên quan đến vụ án ngay từ khi khởi tố vụ án sẽ đem lại nhiều thuận lợi khi thụ lý giải quyết vụ án tiếp ở giai đoạn truy tố, nhất là việc xây dựng các trạng truy tố bị can trước Tòa án. Tuy vậy, trong thực tế, với nhiều lý do, nhất là do chủ quan hoặc quá tự tin vào kết quả đã nắm được và dựa vào bản kết luận điều tra, nên đã xảy ra không ít các trường hợp bản cáo trạng được ban hành gần tương tự như bản kết luận điều tra hoặc có những điểm chưa phù hợp, chính xác với những gì đã được thu thập và có trong hồ sơ, nhất là việc phản ánh và bổ sung những diễn biến mới sau khi Cơ quan điều tra đã ban hành bản kết luận điều tra, số bút lục để chứng minh những nội dung đã nêu trong bản cáo trạng là có căn cứ. Vì thế, việc nghiên cứu hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra do Cơ quan điều tra chuyển tới luôn là nội dung công việc không thể bỏ qua hoặc làm không hết trách nhiệm của mình; nhất là với những trường hợp vụ án mới được tiếp nhận do Viện kiểm sát cấp trên phân công hoặc Viện kiểm sát cùng cấp chuyển đến để truy tố theo thẩm quyền.

Thứ hai: Phải thực hiện nghiêm túc và thể hiện đầy đủ các nội dung cần có của bản cáo trạng theo quy định của pháp luật và theo mẫu quy định.

Mẫu cáo trạng số 107 là mẫu chuẩn đã được VKSND tối cao xây dựng và hướng dẫn toàn ngành thực hiện trên cơ sở quy định của Điều 167 BLTTHS năm 2003, về cơ bản vẫn đáp ứng được với yêu cầu của Điều 243 BLTTHS năm 2015 cả về hình thức và nội dung. Tuy nhiên, để nâng cao chất lượng bản cáo trạng, theo chúng tôi, mẫu cáo trạng sẽ được ban hành kèm theo Quy chế sửa đổi, bổ sung Quy chế thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong khởi tố, điều tra và truy tố của Viện kiểm sát, ngoài phần hình thức và nội dung đã được hướng dẫn tại Mẫu số 107, cần phải lưu ý phản ánh đầy đủ cả những nội dung mới được sửa đổi, bổ sung tại Điều 243 BLTTHS năm 2015, như: Phải “ghi rõ diễn biến hành vi phạm tội”, “những chứng cứ xác định hành vi phạm tội của bị can”, “tính chất, mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra”, “việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế”, “đặc điểm nhân thân của bị can”, “việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và việc xử lý vật chứng”, “nguyên nhân và điều kiện dẫn đến hành vi phạm tội”. Phần kết luận phải ghi rõ không chỉ tội danh và điều khoản của Bộ luật Hình sự được áp dụng, mà cả điểm của điều khoản đó.

Thứ ba: Phải phản ánh đầy đủ và trung thực nội dung vụ án đã được điều tra, thu thập và thể hiện trong hồ sơ vụ án cùng với các bút lục hồ sơ cụ thể để chứng minh mọi diễn biến hành vi phạm tội, những tính tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can. Đây là yêu cầu rất quan trọng, đòi hỏi khi xây dựng cáo trạng phải vận dụng tổng hợp các kiến thức khoa học xã hội và pháp lý để phản ánh một cách ng