16:10 +07 Thứ sáu, 13/12/2019
CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH DẠY KIỂM SÁT VIÊN PHẢI : " CÔNG MINH, CHÍNH TRỰC, KHÁCH QUAN, THẬN TRỌNG, KHIÊM TỐN ".                                                                                                                                               VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI HƯỞNG ỨNG CUỘC VẬN ĐỘNG: XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, KIỂM SÁT VIÊN : "VỮNG VỀ CHÍNH TRỊ, GIỎI VỀ NGHIỆP VỤ, TINH THÔNG VỀ PHÁP LUẬT, CÔNG TÂM VÀ BẢN LĨNH, KỶ CƯƠNG VÀ TRÁCH NHIỆM ".

TRANG LIÊN KẾT

Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai
Học tập tư tưởng HCM
Cổng thông tin điện tử Gia lai
Tạp chí Kiểm sát
tỉnh ủy gia lai
baovepl
Kiểm sát viên cần biết
Thông báo tuyển dụng công chức
mail công vụ

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang truy cậpĐang truy cập : 7

Máy chủ tìm kiếm : 4

Khách viếng thăm : 3


Hôm nayHôm nay : 634

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 14796

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 1347429

Trang nhất » Tin Tức Chung » Tin ngành kiểm sát

Kỷ niệm 60 năm ngày thành lập ngành Kiểm sát
Hưởng ứng giải Búa liềm vàng : giải báo chí toàn quốc về xây dựng Đảng

Dự thảo Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân (sửa đổi)

Thứ tư - 16/04/2014 08:41
        QUỐC HỘI
 
Luật số:   /2014/QH13
           DỰ THẢO
    (trình QH 5.2014)
 
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
           Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
 
   
 
 
                                                                            LUẬT
                                                  TỔ CHỨC VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

                                                                         (SỬA ĐỔI)
 
         Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 28 tháng 11 năm 2013;
Quốc hội ban hành Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân.
                                                                         CHƯƠNG I
                                                           NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh (mới)
Luật này quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, nguyên tắc tổ chức và hoạt động; tổ chức bộ máy; cán bộ, công chức, viên chức và nhân viên; chế độ, chính sách bảo đảm hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân.
Điều 2. Chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân (sửa đổi, bổ sung)
1. Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Thực hành quyền công tố gồm các hoạt động làm rõ sự thật của vụ án, xác định tội phạm, người phạm tội, quyết định việc truy tố, buộc tội người phạm tội theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Thực hành quyền công tố được thực hiện từ khi có thông tin về tội phạm và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử nhằm bảo đảm mọi tội phạm được phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội.
Kiểm sát hoạt động tư pháp là kiểm sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc tiến hành hoặc tham gia các hoạt động tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, giải quyết vụ án hình sự, vụ án hành chính, vụ việc dân sự, thi hành án, giải quyết khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp và các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật. Kiểm sát hoạt động tư pháp nhằm bảo đảm hoạt động tư pháp được thực hiện đúng pháp luật, mọi vi phạm pháp luật được phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh.
2. Trong phạm vi chức năng của mình, Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.
Điều 3. Các lĩnh vực công tác của Viện kiểm sát nhân dân (sửa đổi, bổ sung)
1. Các công tác thực hiện chức năng, nhiệm vụ gồm có:
a) Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố;
b) Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự;
c) Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử vụ án hình sự;
d) Điều tra vụ án hình sự theo quy định của pháp luật;
đ) Kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự;
e) Kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự, vụ án hành chính và những việc khác theo quy định của pháp luật;
g) Kiểm sát việc thi hành án dân sự, thi hành án hành chính;
h) Giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền; kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp của các cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật;
i) Tương trợ tư pháp về hình sự theo quy định của pháp luật;
k) Thống kê hình sự và thống kê tội phạm.
2. Các công tác khác theo quy định của pháp luật.
Điều 4. Thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân khi thực hiện chức năng (sửa đổi, bổ sung)
1. Khi thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân có những thẩm quyền sau đây theo quy định của pháp luật:
a) Ban hành quyết định thuộc thẩm quyền;
b) Phê chuẩn, không phê chuẩn, hủy bỏ quyết định của cơ quan có thẩm quyền;
c) Kiểm tra, xác minh, điều tra; kiểm sát trực tiếp;
d) Truy tố, miễn truy tố bị can;
đ) Luận tội, tranh tụng, phát biểu quan điểm tại Tòa án;
e) Yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị.
g) Các thẩm quyền khác theo quy định của pháp luật.
2. Viện kiểm sát nhân dân chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện các thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này.
Điều 5. Quyền yêu cầu, quyền kiến nghị, quyền kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân (mới)
1. Viện kiểm sát nhân dân thực hiện quyền yêu cầu khi phát hiện cơ quan, tổ chức, cá nhân không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ nhiệm vụ, trách nhiệm trong việc tiến hành hoặc tham gia hoạt động tư pháp; khi cần bổ sung chứng cứ, tài liệu, thông tin để làm căn cứ giải quyết đúng đắn vụ, việc thuộc thẩm quyền hoặc trong các trường hợp khác do luật quy định. Cơ quan, tổ chức, cá nhân phải nghiêm chỉnh chấp hành yêu cầu của Viện kiểm sát.
2. Viện kiểm sát nhân dân thực hiện quyền kiến nghị khi phát hiện cơ quan, tổ chức, cá nhân có vi phạm pháp luật hoặc có sơ hở, thiếu sót trong hoạt động tư pháp, quản lý nhà nước, cần áp dụng các biện pháp khắc phục, phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm xem xét, tiếp thu và trả lời kiến nghị của Viện kiểm sát.
3. Viện kiểm sát nhân dân thực hiện quyền kháng nghị khi phát hiện bản án, quyết định, hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành hoạt động tư pháp có vi phạm là căn cứ kháng nghị theo quy định của pháp luật hoặc xâm phạm quyền con người, quyền công dân, lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Cơ quan, người có thẩm quyền phải xem xét bản án, quyết định, hành vi bị kháng nghị theo thủ tục do luật quy định. 
Điều 6. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân (sửa đổi, bổ sung)
1. Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung thống nhất do Viện trưởng lãnh đạo. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Viện kiểm sát nhân dân cấp trên có trách nhiệm kiểm tra, xử lý nghiêm minh vi phạm pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên có quyền rút, đình chỉ hoặc huỷ bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới.
2. Tại Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Viện kiểm sát quân sự trung ương, Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương thành lập Uỷ ban kiểm sát để thảo luận và quyết định theo đa số những vấn đề quan trọng hoặc cho ý kiến về các vụ án, vụ việc theo quy định của Luật này.
3. Khi thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, Kiểm sát viên thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật và chịu sự chỉ đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân.
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm kiểm tra, xử lý nghiêm minh đối với vi phạm pháp luật của Kiểm sát viên khi thực hiện nhiệm vụ được giao; có quyền rút, đình chỉ hoặc huỷ bỏ các quyết định không có căn cứ hoặc trái pháp luật của Kiểm sát viên khi thực hiện nhiệm vụ.
Kiểm sát viên có quyền từ chối nhiệm vụ được giao khi có căn cứ cho rằng việc đó là trái pháp luật; nếu Viện trưởng vẫn quyết định thì Kiểm sát viên phải chấp hành nhưng Viện trưởng phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình; trong trường hợp này, Kiểm sát viên có quyền báo cáo lên Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp và không phải chịu trách nhiệm về hậu quả của việc thi hành quyết định đó.
Nghiêm cấm mọi hành vi cản trở hoặc can thiệp trái pháp luật vào hoạt động của Kiểm sát viên.
Điều 7. Trách nhiệm phối hợp của Viện kiểm sát nhân dân (sửa đổi, bổ sung)
Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình, Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan Toà án, Công an, Thanh tra, Tư pháp, Kiểm toán, các cơ quan nhà nước khác, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đơn vị vũ trang nhân dân để phòng ngừa và chống tội phạm có hiệu quả, xử lý kịp thời, nghiêm minh các loại tội phạm và vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp; tuyên truyền, giáo dục pháp luật; xây dựng pháp luật; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; nghiên cứu tội phạm và vi phạm pháp luật.
Điều 8. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân (sửa đổi, bổ sung)
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân phải tôn trọng, tạo điều kiện để Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng, nhiệm vụ. Nghiêm cấm mọi hành vi cản trở, can thiệp trái pháp luật vào hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân.
2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải thực hiện nghiêm chỉnh các lệnh, quyết định, yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân.
3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu, kiến nghị, kh