12:39 EDT Thứ năm, 19/09/2019
CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH DẠY KIỂM SÁT VIÊN PHẢI : " CÔNG MINH, CHÍNH TRỰC, KHÁCH QUAN, THẬN TRỌNG, KHIÊM TỐN ".                                                                                                                                               VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI HƯỞNG ỨNG CUỘC VẬN ĐỘNG: XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, KIỂM SÁT VIÊN : "VỮNG VỀ CHÍNH TRỊ, GIỎI VỀ NGHIỆP VỤ, TINH THÔNG VỀ PHÁP LUẬT, CÔNG TÂM VÀ BẢN LĨNH, KỶ CƯƠNG VÀ TRÁCH NHIỆM ".

TRANG LIÊN KẾT

VKSND tỉnh Gia Lai
Cổng thông tin điện tử Gia lai
Tạp chí Kiểm sát
tỉnh ủy gia lai
baovepl
Kiểm sát viên cần biết
Luật Việt Nam
mail công vụ

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang truy cậpĐang truy cập : 39

Máy chủ tìm kiếm : 2

Khách viếng thăm : 37


Hôm nayHôm nay : 842

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 13640

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 1263944

Liên hệ QC Trái

Trang nhất » Tin Tức Chung » Sáng kiến ngành KSND tỉnh Gia Lai

Hưởng ứng giải Búa liềm vàng : giải báo chí toàn quốc về xây dựng Đảng

GIẢI PHÁP, KỸ NĂNG TÁC NGHIỆP TRONG HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT VIỆC QUẢN LÝ VÀ GIÁO DỤC NGƯỜI CHẤP HÀNH ÁN PHẠT TÙ TẠI TRẠI GIAM, TRẠI TẠM GIAM

Chủ nhật - 07/10/2018 22:43
Công tác kiểm sát việc quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai trong những năm qua được quan tâm chỉ đạo và đã đạt được những kết quả đáng kể, đảm bảo sự tuân thủ pháp luật trong lĩnh vực quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù tại Trại giam, Trại tạm giam.

PHẦN A: MỞ ĐẦU
 
1. Lý do chọn sáng kiến
Kỹ năng kiểm sát việc quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù là những thao tác nghiệp vụ khi trực tiếp kiểm sát định kỳ và đột xuất tại Trại giam, phân trại quản lý phạm nhân trong Trại tạm giam nhằm phát hiện vi phạm pháp luật của cơ quan quản lý giam giữ và các cơ quan khác có trách nhiệm trong việc quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù; là những thao tác cụ thể trong việc áp dụng các biện pháp pháp lý để yêu cầu cơ quan có vi phạm đình chỉ việc thi hành, sửa đổi hoặc bãi bỏ quyết định có vi phạm trong việc quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù, chấm dứt việc làm vi phạm pháp luật và yêu cầu xử lý người vi phạm pháp luật nhằm góp phần tích cực đảm bảo việc quản lý và giáo dục phạm nhân theo đúng quy định của pháp luật; bảo đảm việc thực hiện chế độ đối với phạm nhân; đảm bảo tính mạng, danh dự, nhân phẩm của phạm nhân và các quyền khác của họ không bị pháp luật tước bỏ được tôn trọng.
Công tác kiểm sát việc quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai trong những năm qua được quan tâm chỉ đạo và đã đạt được những kết quả đáng kể, đảm bảo sự tuân thủ pháp luật trong lĩnh vực quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù tại Trại giam, Trại tạm giam.
Trên cơ sở lý luận và đúc kết kinh nghiệm thực tiễn, thấy cần thiết nên tập hợp đưa ra thành sáng kiến giải pháp, kỹ năng tác nghiệp để làm cơ sở, nền tảng giúp cho mỗi cán bộ, kiểm sát viên khi được giao thực hiện nhiệm vụ công tác kiểm sát việc quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù đều có thể làm tốt và đạt chất lượng hiệu quả.      
  
2. Điểm mới trong sáng kiến

      Sáng kiến tác nghiệp được nêu ra dựa trên cơ sở lý luận khoa học công tác kiểm sát, kết quả tổng hợp, quy nạp những kinh nghiệm hoạt động nghiệp vụ qua thực tiễn công tác; qua việc nghiên cứu tìm tòi học hỏi kinh nghiệm của nhiều đơn vị mà có được; Nội dung Sáng kiến đưa ra theo trình tự lô gich, ngắn gọn, dễ hiểu, dễ tiếp thu áp dụng, có tính khả thi, cập nhật kịp thời các quy định mới của pháp luật, không lỗi thời và có nhiều điểm khác biệt so với hiện trạng của những năm trước đây.
                                                     
PHẦN B: NỘI DUNG SÁNG KIẾN
 
I.Thực trạng của nội dung cần nghiên cứu:

Hoạt động kiểm sát việc quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù là một trong những nội dung của công tác kiểm sát thi hành án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân. Trong những năm qua hoạt động công tác này đã được Lãnh đạo Viện quan tâm chỉ đạo và đã đạt được những kết quả đáng kể; đảm bảo sự tuân thủ pháp luật trong thi hành án nói chung, trong quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù nói riêng.
Tuy nhiên trong quá trình thực hiện kiểm sát việc quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù tại Trại giam, phân trại quản lý phạm nhân của Trại tạm giam, các cán bộ, kiểm sát viên ngay cả của phòng kiểm sát thi hành án hình sự (P8) vẫn chưa có một kỹ năng nhuần nhuyễn khi thực hiện hoạt động kiểm sát, chất lượng tham mưu triển khai tổng hợp chưa cao; chưa nói đến khi có những cán bộ kiểm sát viên từ các khâu công tác kiểm sát, các Phòng nghiệp vụ khác chuyển về nhận nhiệm vụ kiểm sát việc quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù sẽ có những khó khăn nhất định.
Công tác quản lý và giáo dục phạm nhân của Trại giam là một hoạt động đặc thù, có rất nhiều nội dung phải thực hiện, có rất nhiều văn bản pháp luật quy định; đòi hỏi mỗi kiểm sát viên khi thực hiện công tác kiểm sát phải nghiên cứu nắm bắt một cách đầy đủ, toàn diện và chặt chẽ mới có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ.
 
II. Nội dung của sáng kiến

Để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động công tác kiểm sát thi hành án hình sự nói chung, kiểm sát việc quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù nói riêng; Mỗi cán bộ, kiểm sát viên và người Lãnh đạo quản lý cần nắm vững và triển khai các giải pháp, kỹ năng tác nghiệp theo những nội dung sau:

1.Đầu tiên phải nghiên cứu áp dụng chính xác cơ sở, căn cứ pháp lý cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn hoạt động kiểm sát quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù mà pháp luật và quy chế của Ngành đã quy định.

1.1. Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014: là cơ sở pháp lý trung tâm nhất cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND nói chung, hoạt động công tác kiểm sát thi hành án hình sự nói riêng. Cụ thể:
-Điều 4 quy định chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp và nhiệm vụ quyền hạn khi kiểm sát hoạt động tư pháp;
-Điểm đ khoản 2 điều 6 quy định các công tác của Viện kiểm sát nhân dân, trong đó có: Kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự;
-Điều 25, điều 26 Luật tổ chức VKSND, Điều 141- Điều 143 Luật thi hành án hình sự năm 2010 quy định: Nhiệm vụ quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân khi kiểm sát việc thi hành án hình sự, trách nhiệm thực hiện yêu cầu kiến nghị, kháng nghị, quyết định của VKSND.
        
1.2. Quy chế công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự số: 501/QĐ-VKSTC ngày 12/12/2017 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao (gọi tắt là quy chế 501):
Để hình dung, bao quát và cụ thể hóa những nội dung công tác, để biết được những nội dung công tác kiểm sát thi hành án hình sự phải làm, làm thế nào, làm ở đâu, làm với đối tượng nào; phải nghiên cứu một cách kỹ lưỡng toàn bộ nội dung của Quy chế công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự số: 501/QĐ-VKSTC ngày 12/12/2017 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Quy chế 501 đã cụ thể hóa những nội dung hoạt động Công tác kiểm sát thi hành án hình sự;
Điều 14: Quy định kiểm sát việc quản lý và giáo dục phạm nhân; bao gồm các nội dung cụ thể sau:
          -Kiểm sát việc tiếp nhận người chấp hành án phạt tù và hồ sơ kèm theo;
          -Kiểm sát việc thực hiện chế độ quản lý giam giữ, giáo dục phạm nhân của Trại giam, Trại tạm giam, Nhà tạm giữ cơ quan THAHS Công an cấp huyện, gồm:
          +Việc thực hiện phân loại giam giữ và tổ chức giam giữ theo phân loại, việc nâng, hạ loại phạm nhân;
          +Việc tuần tra, canh gác, lục soát, dẫn giải, kiểm soát phạm nhân;
          +Việc thực hiện chế độ lao động, học nghề và được thông tin của phạm nhân;
          +Việc chấp hành nội quy Trại giam; việc trích xuất, khen thưởng, xử lý phạm nhân vi phạm;
          +Việc đánh giá, xếp loại thi đua chấp hành án phạt tù.
         - Kiểm sát việc thực hiện chế độ ăn, mặc, ở, sinh hoạt, chăm sóc y tế đối với phạm nhân, chế độ đối với phạm nhân nữ có thai, nuôi con dưới 36 tháng tuổi, phạm nhân là người dưới 18 tuổi.
          Đồng thời với các nội dung trên, Quy chế còn quy định các nội dung khác liên quan khi kiểm sát tại Trại giam, Phân trại quản lý phạm nhân của Trại tạm giam cụ thể:
          Điều 15: Kiểm sát việc tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù;
          Điều 16: Kiểm sát việc đình chỉ thi hành án phạt tù;
          Điều 18: Kiểm sát việc giảm thời hạn chấp hành án phạt tù;
          Điều 19: Kiểm sát việc tha tù, thi hành quyết định tha tù, hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện;
          Điều 20: Kiểm sát việc miễn chấp hành án phạt tù;
          Điều 21: Kiểm sát việc đặc xá.
         
1.3.Nghiên cứu áp dụng quyết định 39/QĐ-VKSTC ngày 26/1/2018 của VKS tối cao ban hành hệ thống biểu mẫu nghiệp vụ kiểm sát TGTG&THAHS (80 biểu mẫu) để áp dụng cho chính xác.

1.4. Nghiên cứu và nắm vững các văn bản pháp luật quy định về thi hành án hình sự, về quản lý, giáo dục phạm nhân, dùng làm căn cứ để xác định vi phạm pháp luật trong công tác thi hành án hình sự; Đây là nội dung rất quan trọng mà mỗi cán bộ, kiểm sát viên phải nghiên cứu nắm bắt một cách đầy đủ, chính xác để khi kiểm sát phát hiện, đối chiếu kết luận nội dung nào đó về thi hành án hình sự có vi phạm pháp luật hay không?, bao gồm:
     -Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 66 quy định tha tù trước thời hạn có điều kiện;
     -Bộ Luật TTHS, Điều 368 quy định thủ tục xét tha tù trước thời hạn có điều kiện;
     -Luật đặc xá năm 2007, các văn bản pháp luật về đặc xá;
     - Luật thi hành án hình sự năm 2010:
       +Điều 9 những hành vi nghiêm cấm trong thi hành án hình sự, chú ý khoản 4,5,6,7.
       +Điều 16: Nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Trại giam;
       +Điều 17 Nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Trại tạm giam;
       -Nghị định 117/2011/NĐ-CP ngày 15/12/2011 của Chính phủ Quy định về tổ chức, quản lý và chế độ ăn mặc, ở, sinh hoạt, chăm sóc y tế đối với phạm nhân;
       -Nghị định 90/2015/NĐ-CP ngày 13/10/2015 của Chính phủ sửa đổi một số điều của nghị định 117/2011 về tổ chức, quản lý và chế độ ăn mặc, ở, sinh hoạt, chăm sóc y tế đối với phạm nhân;
     -Nghị định 80/2011/NĐ-CP ngày 16/9/2011 của CHính phủ Quy định các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù;
      -Thông tư 16/2011/TT-BCA ngyà 14/4/2011 của Bộ Công an quy định về công tác cảnh sát quản giáo;
      -Thông tư 37/2011/TT-BCA ngày 3/6/2011 của Bộ Công an Quy định phân loại và giam giữ phạm nhân theo phân loại;
      -Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 9/2/2018 (Hiệu lực TH: 28/3/2018). Quy định phối hợp thực hiện quy định của BLTTHS năm 2015 về tha tù trước thời hạn có điều kiện.
      -Thông tư 07/2018/TT-BCA ngày 12/2/2018 của Bộ Công an (HLTH: 29/3/2018); quy định việc phạm nhân gặp thân nhân..thay thế thông tư 46/2011).
      -Hướng dẫn 886/HD-C81-C86 ngày 15/5/2017 về tổ chức hoạt động ban tự quản phạm nhân (dành cho cấp tỉnh áp dụng).
      -Thông tư 06/2018/TT-BCA ngày 12/2/2018 của Bộ Công an (HLTH: 29/3/2018); quy định tiêu chuẩn thi đua và xếp loại thi đua phạm nhân thay thế thông tư 40/2011). Chú ý nội dung này có 21 biểu mẫu mới ký hiệu XL1 đến XL21 và không dùng biểu mẫu của Thông tư 63.
      -Thông tư 58/2011/TT-BCA ngày 9/8/2011 của Bộ Công an quy định về đồ vật cấm đưa vào trại giam và việc thu giữ, xử lý đồ vật cấm;
      -Thông tư 02/2013/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 15/5/2013 của liên ngành quy định về giảm thời hạn chấp hành án phạt tù;
      -Thông tư 04/2013/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 30/5/2013 của liên ngành hướng dẫn thực hiện trích xuất phạm nhân để phục vụ ĐT-TT-XXử;
      -Thông tư 63/2011/TT-BCA ngày 7/9/2011 của Bộ Công an quy định hệ thống biểu mẫu sổ sách về thi hành án hình sự;
      -Thông tư 39/2013/TT-BCA ngày 25/9/2013 của Bộ Công an quy định về giáo dục, tư vấn cho phạm nhân sắp chấp hành xong án phạt tù;
     -Thông tư 02/2012/TTLT-BCA-BQP-BGDDT ngày 6/2/2012 của liên ngành hướng dẫn việc tổ chức dạy văn hóa, giáo dục pháp luật, GDCD, phổ biến thông tin, thời sự, chính sách và thực hiện chế độ sinh hoạt, giải trí cho phạm nhân;
     -Thông tư 68/2011/TT-BCA ngày 7/10/2011 của Bộ Công an quy định về hoạt động vũ trang bảo vệ Trại giam..;
     -Thông tư Liên tịch số: 03/2013/TTLT-BCA-TATC-VKSTC-BQP-BYT ngày 15/5/2013 hướng dẫn thi hành quy định về tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù đối với phạm nhân;
      -Thông tư 36/2011/TT-BCA ngày 26/5/2011 của Bộ Công an Ban hành nội quy Trại giam;
      -Thông tư 07/2004/TTLT-BCA- VKSNDTC ngày 29/4/2004 của liên ngành hướng dẫn thực hiện một số quy định về thi hành án phạt tù đối với phạm nhân tại nhà tạm giữ;
      -Thông tư 12/2013-TTLT-BCA-BQP-BTC ngày 2/12/2013 Hướng dẫn về chế độ lao động và sử dụng kết quả lao động;
      -Hướng dẫn 2537/HD-V26(P4-P6) hướng dẫn công tác giáo dục quản lý phạm nhân giam riêng;
      -Hướng dẫn 2828/HD-C81-C86 ngày 19/9/2013 của TC8-BCA về khen thưởng, kỷ luật phạm nhân;
      -Hướng dẫn 1429/HD-C81-C83 ngày 9/7/2014 của TC8-BCA về thủ tục đưa phạm nhân đi chấp hành án;
      -Hướng dẫn 603/HD-C81-C86 ngày 17/4/2018 về tổ chức căng tin trong trại giam..
      -Nghị quyết số: 02/2007/NQ-HĐTP ngày 2/10/2007 của hội đồng thẩm phán TATC Hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ năm “Thi hành bản án và quyết định của Tòa án” của Bộ Luật tố tụng hình sự.
      -Nghị quyết 01/2018/NQ-HĐTP ngày 24/4/2018 Hướng dẫn áp dụng Điều 66 và Điều 106 của BLHS về tha tù trước thời hạn có điều kiện;
Để thực hiện có chất lượng và hiệu quả hoạt động kiểm sát thi hành án hình sự, kiểm sát viên phải cập nhật và nghiên cứu kỹ những văn bản pháp luật, các hướng dẫn nêu trên để áp dụng trong quá trình thực hiện các phương thức kiểm sát.
  
2. Sau khi đã tập hợp, nghiên cứu đầy đủ các căn cứ pháp luật nêu trên, để thực hiện hoạt động kiểm sát có chất lượng, hiệu quả, có trọng tâm, trọng điểm;

Kiểm sát viên cần phải nắm được các dạng vi phạm phổ biến thường gặp ở Trại giam, Phân trại quản lý phạm nhân của Trại tạm giam. Qua thực tiễn hoạt động kiểm sát đã tổng hợp được các dạng vi phạm thường gặp trong công tác quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù tại Trại giam, phân trại quản lý phạm nhân của Trại tạm giam như sau:

2.1.Về thủ tục pháp luật:
  • Không lập và cập nhật đầy đủ, chính xác các loại sổ sách về quản lý giáo dục phạm nhân theo quy định Thông tư 63 Bộ công an quy định về hệ thống biểu mẫu, sổ sách thi hành án hình sự (sổ theo dõi phản ánh tình hình tổ, đội phạm nhân; sổ sinh hoạt tổ đội phạm nhân; sổ theo dõi phạm nhân chấp hành xong án phạt tù, sổ theo dõi phạm nhân thăm gặp, các loại sổ theo dõi hoạt động của Ban tự quản phạm nhân...).
  • Hồ sơ phạm nhân nhập trại: lập, cập nhật và lưu giữ không đầy đủ, chính xác các tài liệu liên quan (phiếu khám sức khỏe, bản tự khai lai lịch phạm nhân, phiếu theo dõi quá trình chấp hành án, thông báo tiếp nhận phạm nhân đến chấp hành án..);
  • Hồ sơ khen thưởng, kỷ luật phạm nhân lập chưa đầy đủ, chính xác;
  • Hồ sơ phạm nhân chết không thông báo hoặc thông báo không kịp thời, không đúng cơ quan quy định;
  • Hồ sơ trích xuất phạm nhân lập không đầy đủ chặt chẽ, lệnh trích xuất không ghi thời hạn trích xuất;
  • Hồ sơ phạm nhân chấp hành xong: không thực hiện việc thông báo phạm nhân sắp chấp hành xong trước hai tháng, không thực hiện việc giáo dục THNCĐ, không có cam kết, không thực hiện việc khảo sát, tư vấn, không có thu hoạch học tập hoặc có nhưng không đầy đủ chặt chẽ;
  • Hồ sơ, sổ sách tại các phân trại:
          +Hồ sơ quản giáo: lập, cập nhật không đầy đủ chặt chẽ theo quy định như phiếu theo dõi quá trình chấp hành án của phạm nhân không có ảnh, không ghi tiền án, tiền sự, tiền sử bệnh tật, tiền sử sử dụng ma túy, không cập nhật bản án, quyết định thi hành án, kết quả các kỳ xếp loại thi đua CHAPT;
          +Sổ sách quản giáo: Cập nhật ghi chép, ký xác nhận không đầy đủ (quản giáo phụ trách đội, đội trưởng phạm nhân, phản ánh tình hình không đầy đủ, nội dung sơ sài.
          +Hồ sơ vật cấm thể hiện không đầy đủ chính xác việc thu giữ, quản lý, xử lý theo quy định của Bộ Công an về thu giữ, xử lý vật cấm;
          +Hồ sơ, sổ sách Ban tự quản phạm nhân lập cập nhật không đầy đủ theo quy định tại Hướng dẫn 886/HD-C81-C86 ngày 15/5/2017 về tổ chức hoạt động ban tự quản phạm nhân, lập không thống nhất giữa các phân trại;
          +Hồ sơ thăm gặp thêm giờ lập cập nhật không đầy đủ theo quy định không có đăng ký kết hôn, không có đề xuất bằng văn bản theo quy định, không thống nhất giữa các phân trại; việc xác nhận các trường hợp hôn nhân thực tế của một số địa phương không đầy đủ rõ ràng, chính xác...

2.2.Về nội dung công tác quản lý giáo dục:
          -Công tác quản lý còn lỏng lẻo sơ hở chủ quan để xảy ra việc phạm nhân trốn, chết do tự sát, chết ở hiện trường lao động, phạm tội mới, phạm nhân vi phạm kỷ luật;
          -Việc xét khen thưởng, kỷ luật có trường hợp chưa chặt chẽ theo quy định;
          -Việc thực hiện khám sức khỏe, thông báo tiếp nhận phạm nhân mới nhập trại, phân loại phạm nhân chưa thực hiện kịp thời, đầy đủ có trường hợp còn chậm theo quy định;
          -Việc bố trí giam giữ: còn bố trí phạm nhân phụ giúp bán hàng căng tin sai quy định (trường hợp phạm nhân có mức án trên 7 năm tù hoặc phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản..)
          -Biên chế đội phạm nhân vượt số lượng so với quy định thông tư 37;
          -Chế độ ở không đảm bảo diện tích;
          -Chế độ mặc: cấp phát không kịp thời đầy đủ chế độ quần áo dài, quần áo lót;
          -Cho thăm gặp vượt số lần quy định;
          -Cho nhận quà vượt định lượng cho phép;
          -Cho liên lạc điện thoại vượt số lần, thời gian liên lạc theo quy định;
-Thực hiện không đầy đủ, đúng đắn nội dung hoạt động của ban tự quản phạm nhân;
          -Việc phân loại quản chế, nâng, hạ loại, xếp loại thi đua CHAPT có trường hợp không chính xác theo quy định;
          -Bố trí phạm nhân lao động vào thứ 7, chủ nhật không đúng quy định;
          -Không thực hiện đầy đủ việc kiểm tra lục soát đình kỳ theo quy định;
          -Thực hiện việc gặp gỡ giáo dục phạm nhân giam riêng không đầy đủ theo quy định;
          -Thực hiện chương trình giáo dục chính trị, pháp luật, văn hóa không đầy đủ số tiết, số buổi theo quy định;
          -Đề nghị xét giảm án đối với một số trường hợp chưa công bằng, hợp lý;

3. Kỹ năng triển khai hoạt động kiểm sát việc quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù tại Trại giam, Trại tạm giam.
Đối tượng của hoạt động kiểm sát việc quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù (phạm nhân) là việc chấp hành pháp luật của cơ quan, đơn vị và người có trách nhiệm trong thi hành án hình sự và việc quản lý, giáo dục người chấp hành án phạt tù rất rộng không chỉ có Ban giám thị Trại giam, phân trại quản lý phạm nhân trong các Trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự các cấp mà còn bao gồm cả những cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm liên quan đến việc ra các quyết định về thi hành án phạt tù, thủ tục thi hành án phạt tù, đưa đối tượng đi thi hành án phạt tù.. Tuy nhiên trong chuyên đề sáng kiến này chỉ đề cập kĩ năng kiểm sát đối tượng là Trại giam và phân trại quản lý phạm nhân trong các Trại tạm giam, dành cho cán bộ, kiểm sát viên, Lãnh đạo quản lý hoạt động kiểm sát việc quản lý, giáo dục người chấp hành án phạt tù (phạm nhân) ở cấp tỉnh nghiên cứu làm cơ sở để lãnh đạo quản lý và triển khai thực hiện có chất lượng hiệu quả.
Phạm vi công tác kiểm sát quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù cũng rất rộng, bắt đầu từ khi bản án có hiệu lực pháp luật Tòa án sơ thẩm ra quyết định thi hành án phạt tù, Bộ Công an có quyết định chuyển phạm nhân vào nơi chấp hành án Trại giam, phân trại quản lý phạm nhân tiếp nhận người đến chấp hành án, đến khi người phải chấp hành án phạt tù chấp hành xong hình phạt được trả tự do và được cấp giấy chứng nhận chấp hành xong. Trong chuyên đề sáng kiến này chỉ đề cập kĩ năng kiểm sát phạm vi từ khi Bộ Công an có quyết định chuyển phạm nhân vào nơi chấp hành án đến khi người phải chấp hành án phạt tù chấp hành xong hình phạt được trả tự do và được cấp giấy chứng nhận chấp hành xong.
       
3.1. Về quản lý chỉ đạo điều hành:

Lãnh đạo VKS cấp tỉnh phải xác định rõ và thực hiện đầy đủ, đúng đắn chức năng của Ngành đó là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, không thể coi nhẹ, lơ là chức năng nào; trong đó hoạt động KSTHAHS nằm trong chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp cũng phải quan tâm quản lý chỉ đạo thực hiện nghiêm túc đầy đủ đúng đắn như  hoạt động các khâu công tác kiểm sát khác. (lâu nay nhiều đơn vị VKS còn khuynh hướng coi trọng khâu công tác kiểm sát này, coi nhẹ khâu công tác kia, thiếu đầu tư quan tâm chỉ đạo nên dẫn đến hiệu quả chất lượng công tác bị hạn chế).
Khi có nhận thức đúng, trách nhiệm trong công tác sẽ được nâng lên, Lãnh đạo phải nắm chắc về nghiệp vụ, quan tâm làm tốt công tác chỉ đạo điều hành, công tác lãnh đạo có kiểm tra; phân công bố trí hợp lý cán bộ, kiểm sát viên có năng lực, trách nhiệm làm tốt công tác này.
Trên cơ sở Chỉ thị về nhiệm vụ kế hoạch công tác của Ngành, Chỉ đạo phòng nghiệp vụ (P8) xây dựng kế hoạch sát đúng, phù hợp điều kiện đơn vị, địa phương; định hình, dự kiến các nội dung cần thực hiện trong từng thời gian, từng đối tượng để chỉ đạo triển khai công tác.
Chỉ đạo Phòng 8 thiết lập, xây dựng hệ thống sổ sách, hồ sơ để thực hiện việc theo dõi chỉ đạo chặt chẽ; cập nhật đầy đủ hệ thống căn cứ pháp luật (như nêu trên), nắm bắt tình hình quản lý, giáo dục phạm nhân; thường xuyên rà soát, đánh giá tổng hợp rút kinh nghiệm, phát huy ưu điểm, khắc phục kịp thời các hạn chế tồn tại để nâng cao chất lượng hoạt động công tác.
      
3.2. Nắm chắc các phương thức để tiến hành thực hiện chức năng kiểm sát:
          Theo quy định tại Điều 25, 26 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Điều 37 Quy chế 501 thì việc thực hiện chức năng kiểm sát được thông qua các phương thức sau:
          -Thực hiện quyền yêu cầu:
          Yêu cầu Tòa án, cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan tổ chức được giao một số nhiệm vụ công tác thi hành án hình sự tự kiểm tra việc thi hành án hình sự và thông báo kết quả kiểm tra cho Viện kiểm sát; cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan đến việc thi hành án hình sự. (Đối với chuyên đề này là thực hiện quyền yêu cầu đối với Trại giam, Trại tạm giam);
  • Kiểm sát quyết định thi hành án hình sự, kiểm sát hồ sơ thi hành án hình sự:
          Viện kiểm sát kiểm sát các quyết định về thi hành án hình sự của Tòa án có thẩm quyền (không đi sâu trong chuyên đề này).
          Viện kiểm sát kiểm sát các hồ sơ thi hành án hình sự do cơ quan có thẩm quyền chuyển đến, trực tiếp kiểm sát hồ sơ tại cơ quan thi hành án hình sự (Trại giam, Trại tạm giam);
-Trực tiếp gặp hỏi, xác minh, thu thập tài liệu:
          Khi tiến hành kiểm sát Trại giam, phân trại giam kiểm sát viên, kiểm tra viên có thể trực tiếp gặp, hỏi người chấp hành án, trường hợp cần thiết thì có thể lập biên bản lấy lời khai của họ. Khi xét thấy cần thiêt, Viện kiểm sát tiến hành xác  minh, thu thập tài liệu để làm rõ vi phạm pháp luật.
          -Trực tiếp kiểm sát (định kỳ và đột xuất).
          Khoản 4, Điều 141 Luật THAHS quy định: Định kỳ và đột xuất kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành án của cơ quan thi hành án hình sự cùng cấp và cấp dưới... Viện kiểm sát  nhân dân cấp tỉnh trực tiếp kiểm sát việc tuân theo pháp luật, kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu đối với trại giam đóng tại địa phương trong việc thi hành án phạt tù.
          Việc trực tiếp kiểm sát do Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc kiểm sát viên được phân công tiến hành có sự tham gia của Kiểm tra viên và phải có quyết định, kế hoạc kiểm sát, khi kết thúc phải có kết luận bằng văn bản.
          Trường hợp trực tiếp kiểm sát đột xuất thì không cần kế hoạch kiểm sát.

3.3. Kỹ năng thực hiện Trực tiếp kiểm sát Trại giam, PTQLPN Trại tạm giam:

3.3.1.Về lập hồ sơ kiểm sát: Công tác lập hồ sơ TTKS thời gian qua đã có nhiều tiến bộ, tuy nhiên vẫn còn không ít những thiếu sót nên cần nghiên cứu thống nhất thực hiện đầy đủ chặt chẽ hơn trong thời gian tới, Cụ thể như sau:
  • Mỗi cuộc kiểm sát đều phải thiết lập hồ sơ riêng, bao gồm:
         +Có bìa hồ sơ ghi rõ phương thức kiểm sát, đơn vị được KS, thời gian, thời điểm tiến hành, ngày ban hành kết luận kiến nghị, kháng nghị, ngày trả lời kiến nghị;
         +Lưu giữ đầy đủ các tài liệu trong hồ sơ: QĐ, KH, KL trực tiếp kiểm sát, báo cáo của đơn vị được kiểm sát, biên bản kiểm sát, các tài liệu thu thập trong quá trình kiểm sát, bút ký của KSV trong quá trình kiểm sát, dự thảo kết luận, kiến nghị, kháng nghị, văn bản tiếp thu việc thực hiện kiến nghị của viện kiểm sát. Các tài liệu như Biên bản, báo cáo..phải ký, đóng dấu đơn vị đầy đủ.
       - Yêu cầu thực hiện đúng đắn thể thức, hệ thống mẫu văn bản theo Quyết định 39 ngày 26/1/2018 của VKSTC (Mẫu QĐ: 46/TH; Mẫu kế hoạch: 47/TH; Mẫu kết luận: 48/TH; Mẫu Kiến nghị: 56/TH).
       -Yêu cầu áp dụng đầy đủ chính xác các căn cứ pháp luật khi ban hành các QĐ, KH, KL trực tiếp kiểm sát. Cụ thể các căn cứ bắt buộc phải có:
        +Căn cứ ban hành quyết định TTKS: Điểm b, khoản 2, Điều 25 Luật TCVKSND năm 2014; Khoản 4, Điều 141  Luật thi hành án hình sự năm 2010.
        +Căn cứ ban hành Kế hoạch TTKS: Là thực hiện QĐTTKS của đơn vị.
        +Căn cứ ban hành Kết luận TTKS: Khoản 2, Điều 25; Điều 26  Luật TCVKSND năm 2014; Khỏan 6, Điều 141, Điều 143 Luật THAHS năm 2010.
      - Yêu cầu ghi rõ, chính xác thời điểm kiểm sát, thời gian kiểm sát trong Quyết định, kế hoạch kiểm sát.
       - Khi xác định vi phạm phải nêu cụ thể nội dung, số lượng, tính chất, chỉ trích dẫn vi phạm vào điểm, khoản, điều mấy, luật nào, văn bản pháp luật nào, ngày tháng năm, cơ quan ban hành.
       - Phần kiến nghị phải yêu cầu rõ ràng cụ thể khắc phục sửa chữa vi phạm gì, phần yêu cầu trả lời phải nêu: thực hiện và trả lời theo quy định tại điều 26 Luật TCVKSND năm 2014 và Điều 143 Luật thi hành án hình sự năm 2010.
       - Để đảm bảo nội dung kết luận được chính xác, phải thực hiện việc công bố dự thảo kết luận trước khi ban hành chính thức để thống nhất thực hiện.(Có biên bản công bố dự thảo kết luận)
 
       - Sau khi đã ban hành kết luận kiến nghị cần theo dõi việc thực hiện của cơ quan được kiểm sát để có đầy đủ văn bản trả lời việc thực hiện tiếp thu kiến, kháng nghị  vào hồ sơ. đồng thời sao gửi về Vụ nghiệp vụ một bản theo quy chế thông tin báo cáo của ngành.
       - Hồ sơ kiểm sát phải được sắp xếp theo thứ tự và đánh số, có bảng kê tài liệu kèm theo, được quản lý lưu trữ theo đúng quy định.
    
3.
3.2. Kỹ năng cơ bản trước khi đi vào trực tiếp kiểm sát việc quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù của Trại giam, Trại tạm giam:
- Công tác chuẩn bị:
+Trước khi tiến hành trực tiếp kiểm sát định kỳ hoặc đột xuất tại Trại giam, Trại tạm giam, KSV phải tổng hợp tình hình chấp hành pháp luật tại Trại giam, Trại tạm giam trong thời điểm cần kiểm sát để có căn cứ xây dựng kế hoạch kiểm sát, cụ thể là kết quả theo dõi hoạt động quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù của đơn vị mình, qua hồ sơ, tài liệu liên quan, qua báo cáo của người có trách nhiệm, qua kiến nghị của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, qua khiếu nại, tố cáo của người chấp hành án phạt tù hoặc thân nhân của họ và của công dân, qua các phương tiện thông tin đại chúng. Sau đó kiểm sát viên xây dựng kế hoạch nội dung kiểm sát.
          +Trực tiếp kiểm sát định kỳ, đột xuất phải có quyết định trực tiếp kiểm sát, khi kết thúc có kết luận bằng văn bản. Trước khi tiến hành trực tiếp kiểm sát định kỳ, Viện kiểm sát có kế hoạch trực tiếp kiểm sát; nội dung kế hoạch, quyết định, kết luận trực tiếp kiểm sát thực hiện theo mẫu hướng dẫn của VKSNDTC; Quyết định và kế hoạch kiểm sát do lãnh đạo Viện kiểm sát ký ban hành; Kế hoạch kiểm sát phải cụ thể, chi tiết về nội dung, nêu rõ trọng điểm cần quan tâm khi tiến hành kiểm sát (những lĩnh vực mà kiểm sát viên đã có thông tin về vi phạm hoặc thường xảy ra vi phạm). Quyết định và kế hoạch kiểm sát, dự kiến kịch làm việc phải được gửi trước cho Ban giam thị Trại giam, Trại tạm giam ít nhất 05 ngày làm việc để chuẩn bị báo cáo bằng văn bản; đồng thời gửi đến cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp của đơn vị được kiểm sát để phối hợp chỉ đạo thực hiện (trường hợp trực tiếp kiểm sát đột xuất thì không phải gửi trước quyết định).
       + Trực tiếp kiểm sát định kỳ và đột xuất do Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc kiểm sát viên được ủy quyền tiến hành.
       + Trưởng đoàn kiểm sát phân công thành viên đoàn nghiên cứu tình hình chấp hành pháp luật, ưu điểm, những vi phạm tồn tại lưu ý (nếu có) và kết luận trực tiếp kiểm sát đợt trước đối với đơn vị được kiểm sát để phục vụ cho công tác trực tiếp kểm sát;
        - Quy trình tổ chức thực hiện cuộc kiểm sát: 
+Khi tiến hành Trực tiếp kiểm sát phải tổ chức công bố quyết định, kế hoạch trực tiếp kiểm sát, thông qua nội dung chương trình cuộc kiểm sát, thành phần tham gia và các yêu cầu liên quan phục vụ cuộc kiểm sát (Yêu cầu cung cấp hồ sơ, sổ sách, các báo cáo, văn bản, tài liệu liên quan đến công tác quản lý, giáo dục người chấp hành án phạt tù; yêu cầu cử cán bộ phối hợp với đoàn kiểm sát).
+ Nghe giám thị Trại giam, Trại tạm giam báo cáo (bằng văn bản) về số liệu, tình hình hoạt động, tình hình chấp hành pháp luật, những ưu điểm, tồn tại trong việc quản lý, giáo dục người chấp hành án phạt tù trong thời điểm kiểm sát; Những đề xuất kiến nghị (nếu có), Sau khi nghe báo cáo, kiểm sát viên có thể hỏi hoặc yêu cầu báo cáo bổ sung những vấn đề chưa rõ.
+ Trưởng đoàn kiểm sát phân công cho các thành viên trực tiếp kiểm sát theo các nội dung trong kế hoạch. Trong quá trình kiểm sát, các thành viên trong đoàn thông qua trưởng đoàn để yêu cầu đơn vị được kiểm sát cung cấp hồ sơ, sổ sách, các báo cáo, văn bản, tài liệu liên quan đến công tác quản lý, giáo dục người chấp hành án phạt tù, trực tiếp kiểm sát buồng giam, buồng thăm gặp, buồng kỷ luật, nơi bán hàng căng tin, bệnh xá, nơi lao động của phạm nhân và những nơi khác có liên quan, gặp hỏi người chấp hành án, yêu cầu người liên quan giải trình, tiến hành xác minh (nếu thấy cần thiết).
+ Tiến hành các hoạt động kiểm sát (kiểm tra nghiên cứu hồ sơ, tài liệu và sổ sách, kiểm tra thực tế nơi quản lý, giáo dục phạm nhân, nơi lao động, buồng thăm gặp, buồng kỷ luật, căng tin, bệnh xá, gặp hỏi người chấp hành án phạt tù...).
+ Các hoạt động kiểm sát đều phải được ghi chép, lập hồ sơ, lập biên bản (nếu cần thiết) có ký xác nhận của đoàn kiểm sát và Ban giám thị Trại giam, Trại tạm giam để phục vụ cho kết luận và kiến nghị, kháng nghị.
+ Sau khi kết thúc kiểm sát, thành viên đoàn tổng hợp báo cáo kết quả kiểm sát với trưởng đoàn để tổng hợp, xây dựng dự thảo kết luận.
+ Tổng hợp, xây dựng kết luận và công bố kết luận: Sau khi thu thập được các tài liệu chứng cứ có liên quan đến nội dung chấp hành pháp luật trong công tác quản lý, giáo dục người chấp hành án phạt tù tại Trại giam, Trại tạm giam; Kiểm sát viên tổng hợp, đối chiếu với các quy định của pháp luật để xác định những ưu điểm, vi phạm, tồn tại; xác định những nguyên nhân của những ưu điểm, tồn tại; tiến hành phân loại các loại vi phạm, tính chất, mức độ, hậu quả của vi phạm tồn tại theo quy định tại Điều, khoản của văn bản pháp luật nào để xác định yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị hay yêu cầu khởi tố.., từ đó xây dựng dự thảo kết luận.
Sau khi thống nhất với Ban giám thị Trại giam, Trại tạm giam về thời gian, địa điểm tiến hành công bố dự thảo kết luận (dự thảo kiến nghị, kháng nghị nếu có); Trưởng đoàn tự mình hoặc phân công thành viên đoàn công bố dự thảo kết luận trực tiếp kiểm sát. Sau khi công bố các dự thảo này, nếu đơn vị được kiểm sát có ý kiến thì trưởng đoàn trao đổi, tiếp thu ý kiến (Kiểm sát viên được ủy quyền phải ghi chép những ý kiến giải trình của đơn vị được kiểm sát và giải thích phân tích những ý kiến phản hồi) để hoàn thiện kết luận.
Thành viên do Trưởng đoàn phân công phải lập biên bản toàn bộ quá trình công bố dự thảo kết luận trực tiếp kiểm sát, dự thảo kiến nghị, kháng nghị (nếu có) và có ký xác nhận của lãnh đạo đơn vị được kiểm sát và Trưởng đoàn trực tiếp kiểm sát.
+ Ban hành kết luận (kiến nghị, kháng nghị) chính thức, sao gửi đến những đơn vị có liên quan; Hoàn chỉnh hồ sơ trực tiếp kiểm sát.
+ Theo dõi việc thực hiện, trả lời yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị (có văn bản trả lời bằng văn bản của đơn vị được kiểm sát).

3.3.3. Kỹ năng kiểm sát từng nội dung công tác quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù tại Trại giam Trại tạm giam.
            Trước khi đi vào kiểm sát cần kiểm tra tập hợp các văn bản làm căn cứ xác định vi phạm xem đã đầy đủ chưa?; rà lại các dạng vi phạm thường gặp để khi kiểm sát được nhanh và chính xác.
           Nghiên cứu kỹ báo cáo, phân công từng thành viên kiểm sát đối với từng loại hồ sơ, từng nội dung phù hợp. Cụ thể như sau:
-Kiểm sát việc thực hiện thủ tục pháp luật trong công tác quản lý, giáo dục phạm nhân:
           +Xem các loại sổ sách, hồ sơ, tài liệu thi hành án hình sự có được lập đầy đủ, đúng đắn theo quy định tại Thông tư 63 và các văn bản hướng dẫn của Bộ Công an không?; Muốn xác định được nội dung này, Kiểm sát viên nghiên cứu kỹ Thông tư 63/2011/TT-BCA ngày 7/9/2011 kèm theo Hướng dẫn số: 9492/HD-C81-C83 của Bộ Công an hướng dẫn thực hiện Thông tư quy định các loại biểu mẫu, sổ sách về công tác thi hành án hình sự, các văn bản quy định về trình tự, thủ tục lập các loại hồ sơ quản giáo, HS phạm nhân chết, HS phạm nhân vi phạm kỷ luật, HS khen thưởng phạm nhân, HS hết án, HS vật cấm, HS giam riêng, HS trích xuất, HS Ban tự quản phạm nhân, HS tạm đình chỉ, HS đình chỉ, HS giảm án, HS đặc xá, HS tha tù trước thời hạn có điều kiện...để đối chiếu xác định (chú ý các dạng vi phạm của cơ quan thi hành án hình sự đã nêu ở trên việc xác định sẽ nhanh hơn). Khi kiểm sát phải có bút ký ghi chép, trích đầy đủ những tồn tại vi phạm ở sổ sách , hồ sơ, tài liệu nào, cần thiết phải sao chụp lại để đưa vào hồ sơ kiểm sát làm chứng cứ để kết luận cho chính xác.
         Kiểm sát việc quản lý:
          +Xem xét việc tiếp nhận phạm nhân: Có biên bản giao nhận không? Có phiếu khám sức khỏe khi tiếp nhận không, nội dung phiếu khám sức khỏe có ghi và ký xác nhận đủ không, có thực hiện việc phân loại phạm nhân (theo loại A, B, C) theo thông tư 37 không? Có thông báo cho Tòa án và thân nhân phạm nhân nơi đến chấp hành án không?. Kiểm tra hồ sơ hết án xem xét việc thông báo phạm nhân sắp hết thời hạn chấp hành án có đầy đủ, kịp thời không, việc cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù có đảm bảo không.
          + Kiểm tra việc phân loại bố trí giam giữ xem có đúng loại, đúng khu không, có sơ đồ buồng giam không, biên chế đội phạm nhân có đúng quy định không? việc bố trí các phạm nhân phụ giúp căng tin có đúng đối tượng không, Việc thực hiện kiểm tra lục soát thường xuyên, tổng kiểm tra lục soát có đầy đủ chặt chẽ không, Việc quản lý ở các buồng giam, khu giam, ở hiện trường lao động, hoạt động dẫn giải, việc quản lý canh gác phạm nhân điều trị tại bệnh viện, quản lý phạm nhân giam riêng.
          + Kiểm tra sổ phản ánh tình hình tổ đội phạm nhân của các đội phạm nhân, sổ phản ánh tình hình PN của Ban tự quản để xem xét đánh giá công tác quản lý.
          +Tổng hợp các trường hợp vi phạm kỷ luật, trốn, chết do tự sát, tai nạn lao động trong kì kiểm sát để đánh giá công tác quản lý phạm nhân.
          + kiểm tra hồ sơ khen thưởng, kỷ luật phạm nhân để đánh giá việc thực hiện khen thưởng, kỷ luật có đúng quy định không (nội dung, hình thức kỷ luật), kiểm tra danh sách nâng, hạ loại và đối chiếu hồ sơ phạm nhân để xác định việc nâng, hạ loại đúng theo quy định không.
Kiểm sát công tác giáo dục phạm nhân:
Xem xét sổ theo dõi học tập để xác định việc giáo dục học tập 4 tiêu chuẩn thi đua CHAPT, nội quy trại giam, việc tổ chức học văn hóa có đủ số buổi, số giờ không, kiểm tra hồ sơ chấp hành xong để xem xét việc thực hiện giáo dục tái hòa nhập cộng đồng cho phạm nhân hết án; Kiểm tra sổ sinh hoạt tổ đội phạm nhân để xác định việc sinh hoạt xếp loại thi đua tuần vào thứ 6 hàng tuần, xếp loại thi đua tháng, quý, 6 tháng, năm có đầy đủ, đúng quy định không? Việc thông báo kết quả cải tạo 6 tháng cho gia đình phạm nhân. Kiểm tra HS giam riêng để đánh giá công tác giáo dục đối với phạm nhân giam riêng.
Đối với hoạt động kiểm sát việc đặc xá, giảm thời hạn CHHPT, tha tù trước thời hạn có điều kiện chủ yếu tập trung kiểm sát  theo từng đợt hàng năm, quá trình trực tiếp kiểm sát có phát hiện nội dung mới khác thì tổng hợp bổ sung kết luận.
  • Kiểm sát việc thực hiện các chế độ đối với phạm nhân:
        Bao gồm việc thực hiện các chế độ của phạm nhân như: ăn, mặc, ở, thăm gặp thân nhân, liên lạc điện thoại, chăm sóc y tế, lao động dạy nghề, sinh hoạt giải trí
          +Việc thực hiện chế độ ăn tiêu chuẩn hàng ngày có đảm bảo theo quy định không?chế độ ăn trong những ngày tết, ngày lễ có đầy đủ không?
          +Chế độ mặc: có được cấp công tư trang đầy đủ, kịp thời không, kiểm tra trên cơ sở báo cáo của Trại và các phân trại, gặp hỏi phạm nhân.
          +Chế độ ở: Kiểm tra nắm trên cơ sở báo cáo, xem xét các buồng giam xác định tổng diện tích trên số phạm nhân có đảm bảo diện tích bình quan 2m2/phạm nhân không?
          +Chế độ thăm gặp, nhận quà: Kiểm tra sổ theo dõi thăm gặp, nhận quà để xem xét có vượt số lần, định lượng quà, vượt thời gian quy định không? Đối tượng thăm gặp có đúng không? Kiểm tra hồ sơ thăm gặp thêm giờ vợ hoặc chồng xem có đảm bảo trình tự thủ tục và các điều kiện quy định không, nhất là các trường hợp phạm nhân nữ.
          +Chế độ liên lạc điện thoại với thân nhân: Kiểm tra sổ theo dõi liên lạc điện thoại để xác định số lần và thời gian liên lạc có vượt so với quy định không?Việc liên lạc có được giám sát chặt chẽ không?
          +Chế độ chăm sóc y tế: Nghiên cứu nội dung kết quả công tác y tế Trại đã báo cáo, làm việc với đội y tế trực tiếp nghe báo cáo tình hình để đánh giá công tác phòng, khám, chữa bệnh đối với phạm nhân có đảm bảo không?
          +Nghiên cứu nội dung hoạt động lao động dạy nghề, sinh hoạt giải trí xác định lao động dạy nghề có được triển khai đúng chế độ không? Hoạt động sinh hoạt giải trí có được tổ chức cho phạm nhân không?
          Các nội dung về chế độ được đối chiếu với quy định của Nghị định 117/2011/NĐ-CP, Nghị định 90/2015/NĐ-CP, Thông tư 07/2018/TT-BCA, Thông tư liên ngành 02/2012 về tổ chức dạy văn hóa giáo dục pháp luật, phổ biến thời sự và chế độ sinh hoạt giải trí để xác định vi phạm tồn tại.
         -Kiểm sát việc thực hiện chế độ lao động và sử dụng kết quả lao động,học nghề của phạm nhân trong trại giam:
          Nghiên cứu nội dung thực hiện chế độ lao động và sử dụng kết quả lao động, học nghề của phạm nhân mà Trại giam đã báo cáo; Làm việc với đội hậu cần yêu cầu báo cáo và cung cấp: việc lập kế hoạch, phê duyệt và tổ chức thực hiện kế hoạch, việc hạch toán thu, chi, kết quả thu, chi và báo cáo kết quả thu, chi, việc sử dụngkết quả lao động, đối chiếu Thông tư 12/2013-TTLT-BCA-BQP-BTC ngày 2/12/2013 để xem xét đánh giá việc chấp hành pháp luật trong hoạt động này.
          Kiểm tra tại các phân trại đánh giá việc thực hiện chế độ lao động đối với phạm nhân của Trại: Về thời gian lao động, lao động thêm giờ và việc bố trí lao động.
          Đối tượng trực tiếp kiểm sát cụ thể ở Trại giam là: các đội hồ sơ giáo dục, đội quản giáo, đội trinh sát, đội kế hoạch hậu cần, đội y tế môi trường, đội cảnh sát bảo vệ; Các phân trại trực thuộc gồm các tổ hồ sơ giáo dục, quản giáo, trinh sát, hậu cần căng tin theo dõi các đội phạm nhân thuộc phân trại.
          *Riêng đối với Trại tạm giam: Chỉ có 01 phân trại quản lý phạm nhân, với số lượng phạm nhân rất ít (thường dưới 30 phạm nhân), chủ yếu để phục vụ các công việc cho hoạt động tạm giữ tạm giam. Do vậy có một số hoạt động trong công tác quản lý, giáo dục phạm nhân không đề cập tới; Như: không có hoạt động giam riêng, không có Ban tự quản phạm nhân, không có lao động, học nghề, nên quá trình kiểm sát đối với phân trại QLPN của Trại tạm giam cần lưu ý nội dung kiểm sát tránh máy móc.
          *Chú ý thực hiện công tác phúc tra việc thực hiện kiến nghị, kháng nghị đợt kiểm sát trước đó để kết luận.
           Sau khi phát hiện có vi phạm pháp luật trong công tác thi hành án hình sự tại Trại giam Trại tạm giam, Đoàn kiểm sát tổng hợp dự thảo kết luận, kiến nghị, kháng nghị và thực hiện việc công bố dự thảo. Khi ban hành KL, KN, KH N chính thức thì Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên trực tiếp kiểm sát ký kết luận Yêu cầu, Kiến nghị, Kháng nghị, yêu cầu đình chỉ việc thi hành, sửa đổi hoặc bãi bỏ quyết định có vi phạm pháp luật, chấm dứt việc làm vi phạm pháp luật trong công tác thi hành án hình sự; Kiến nghị khắc phục nguyên nhân và điều kiện dẫn đến vi phạm pháp luật và phòng ngừa tội phạm có thể xảy ra, yêu cầu xử lý người vi phạm pháp luật. (thẩm quyền ký được thực hiện theo quyết định 39/QĐ-VKSTC ngày 26/1/2018 của VKSTC)
       Sau khi ban hành kết luận, kiến nghị hoặc kháng nghị, cần theo dõi đầy đủ, chặt chẽ việc thực hiện kiến nghị, kháng nghị của cơ quan thi hành án hình sự theo thời hạn luật định gửi cho Viện kiểm sát.
                                        
PHẦN C: KẾT LUẬN
 
1.Ý nghĩa, phạm vi áp dụng của sáng kiến:

Ý nghĩa: Nội dung giải pháp tác nghiệp trên tuy chưa thật đầy đủ, toàn diện nhưng về cơ bản giúp cho cán bộ, kiểm sát viên VKSND ( nhất là đối với cấp tỉnh) có kiến thức kỹ năng cơ bản khi thực hiện hoạt động công tác kiểm sát thi hành án hình sự, hoạt động quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù đối với Trại giam, trại tạm giam trên địa bàn; khi đọc sáng kiến đã hình dung được gần như toàn bộ hoạt động tác nghiệp, những yêu cầu cần và đủ cho việc thực hiện hoạt động công tác này.
Phạm vi áp dụng: Nội dung sáng kiến tác nghiệp trên có thể áp dụng cho Lãnh đạo, cán bộ, KSV phòng kiểm sát thi hành án hình sự VKSND cấp tỉnh (P8) trong chỉ đạo cũng như thực hiện hoạt động kiểm sát thường kỳ, định kỳ.
 
2. Hiệu quả dự kiến có thể thu được khi áp dụng giải pháp:

Nội dung sáng kiến tác nghiệp trên giúp cho cán bộ, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân đang làm công tác kiểm sát thi hành án hình sự nghiên cứu áp dụng thành hệ thống, chắc chắn sẽ giúp cho các cán bộ, Kiểm sát viên  nắm vững được kiến thức, nhận thức và áp dụng triển khai có hiệu quả hoạt động công tác kiểm sát thi hành án hình sự theo chức năng thẩm quyền luật định; Như vậy sẽ góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng công tác kiểm sát hoạt động tư pháp của các đơn vị Viện kiểm sát nhân dân.

Tác giả bài viết: Trịnh Xuân Thu

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 
Học tập và làm theo tấm gương đạo đức HCM
top