08:46 +07 Chủ nhật, 05/07/2020
CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH DẠY KIỂM SÁT VIÊN PHẢI : " CÔNG MINH, CHÍNH TRỰC, KHÁCH QUAN, THẬN TRỌNG, KHIÊM TỐN ".                                                                                                                                               VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI HƯỞNG ỨNG CUỘC VẬN ĐỘNG: XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, KIỂM SÁT VIÊN : "VỮNG VỀ CHÍNH TRỊ, GIỎI VỀ NGHIỆP VỤ, TINH THÔNG VỀ PHÁP LUẬT, CÔNG TÂM VÀ BẢN LĨNH, KỶ CƯƠNG VÀ TRÁCH NHIỆM ".

TRANG LIÊN KẾT

Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai
Học tập tư tưởng HCM
Cổng thông tin điện tử Gia lai
Tạp chí Kiểm sát
tỉnh ủy gia lai
baovepl
Kiểm sát viên cần biết
Thông báo tuyển dụng công chức
mail công vụ

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang truy cậpĐang truy cập : 20

Máy chủ tìm kiếm : 2

Khách viếng thăm : 18


Hôm nayHôm nay : 375

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 4547

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 1514707

Trang nhất » Tin Tức Chung » Nghiên cứu - Trao đổi

Kỷ niệm 60 năm ngày thành lập ngành Kiểm sát
Hưởng ứng giải Búa liềm vàng : giải báo chí toàn quốc về xây dựng Đảng

Một số giải pháp nâng cao hoạt động Thực hành quyền công tố, Kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử các vụ án “Trộm cắp tài sản” trên địa bàn huyện Đức Cơ

Thứ hai - 09/12/2019 09:08
Đức Cơ là một huyện biên giới thuộc địa phận tỉnh Gia Lai, nằm giữa hai huyện Ia Grai và huyện Chư Prong. Phía tây của huyện là đường biên giới Việt Nam - Campuchia.
 

A. ĐẶT VẤN ĐỀ

1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu

Đức Cơ là một huyện biên giới thuộc địa phận tỉnh Gia Lai, nằm giữa hai huyện Ia Grai và huyện Chư Prong. Phía tây của huyện là đường biên giới Việt Nam - Campuchia. Đức Cơ là một huyện miền núi, đa số dân cư là lao động phổ thông, làm nương rẫy hoặc lao động trong các ngành nghề nông, lâm nghiệp. Địa bàn huyện gồm có 1 thị trấn và 9 xã. Trung tâm của huyện là thị trấn Chư Ty, cách thành phố Pleiku 50km. Huyện Đức Cơ với diện tích là 723,12 km2, có khoảng 65 nghìn nhân khẩu.

Trong những năm gần đây, huyện Đức Cơ liên tục đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội được đầu tư khá toàn diện. Đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng nâng cao. Là một huyện biên giới còn nhiều khó khăn nhưng Đức Cơ cũng có những lợi thế nhất định, trong đó điểm nhấn là Khu kinh tế Cửa khẩu Lệ Thanh. Tại địa bàn huyện cũng đã hình thành các công ty, khu công nghiệp đã thu hút và tạo công ăn việc làm cho hàng trăm người lao động. Tuy nhiên, bên cạnh đó có một số đối tượng không chịu làm ăn, nghiện hút lười lao động, … và chính những người này vì thỏa mãn nhu cầu cá nhân, vì động lực bên trong thúc đẩy nên đã lợi dụng sự sơ hở của người dân để trộm cắp tài sản. Hành vi trộm cắp tài sản đang là một vấn đề nóng, gây bức xúc trong xã hội, tình hình trộm cắp có những chuyển biến phức tạp, số lượng các vụ án trộm cắp tài sản trong 3 năm qua trên địa bàn huyện có chiều hướng gia tăng. Tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội gây ra làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh xã hội, trật tự công cộng tại địa phương và tạo ra cho người dân tâm lý hoang mang, không yên tâm lao động sản xuất và mua sắm tài sản, …

 Do đó, việc nâng cao công tác Kiểm sát điều tra - Thực hành quyền công tố - Kiểm sát xét xử (sau đây viết tắt là KSĐT – THQCT – KSXX) đối với các vụ việc giải quyết án “Trộm cắp tài sản” được xác định là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong công tác kiểm sát hình sự của đơn vị.
Xuất phát từ đòi hỏi thực tiễn nêu trên, Chúng tôi xin mạnh dạn đưa ra một số  giải pháp nhằm “Nâng cao hoạt động Kiểm sát điều tra – Thực hành quyền công tố - Kiểm sát xét xử các vụ án “Trộm cắp tài sản”tại Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Cơ giúp cho công tác KSĐT – THQCT – KSXX  các vụ án “Trộm cắp tài sản” đạt chất lượng cao hơn nhằm đáp ứng được yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp và thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của Ngành đề ra và nâng cao công tác đấu tranh tội phạm góp phần ổn định tình hình chính trị ở địa phương.

2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
+ Đối tượng nghiên cứu : Thực tiễn trong công tác Kiểm sát điều tra – Thực hành quyền công tố - Kiểm sát xét xử các vụ án “Trộm cắp tài sản” của Viện KSND huyện Đức Cơ.
+ Phạm vi nghiên cứu: Chuyên đề nghiên cứu về công tác Kiểm sát điều tra – Thực hành quyền công tố - Kiểm sát xét xử các vụ án “Trộm cắp tài sản” từ năm 2017 đến năm 2019 tại Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Cơ.

B. NỘI DUNG

I. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM SÁT ĐIỀU TRA – THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ - KIỂM SÁT XÉT XỬ TỘI PHẠM “TRỘM CẮP TÀI SẢN” CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC CƠ

1. Thực trạng công tác KSĐT – THQCT - KSXX tội phạm “Trộm cắp tài sản” Trên địa bàn huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai.
Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, tình hình tội phạm trên địa bàn cũng diễn ra phức tạp đặc biết là các tôi phạm về ma túy, các tội phạm về xâm phạm quyền sỡ hữu, trong đó đáng chú ý là tội phạm trộm cắp tài sản tăng mạnh.
Theo số liệu báo cáo tổng kết năm của đơn vị trong 03 năm qua như sau:
+ Năm 2017: khởi tố mới 17 vụ/ 26 bị can, chiếm tỷ lệ 62,9% so với các loại tội phạm khác trong Bộ luật hình sự đã được khởi tố, điều tra.
+ Năm 2018: khởi tố mới 20 vụ/31 bị can, chiếm tỷ lệ 54,1% so với các loại tội phạm khác trong Bộ luật hình sự đã được khởi tố, điều tra.
+ 09 tháng đầu năm 2019: khởi tố mới 14 vụ/ 31 bị can, chiếm tỷ lệ 54% so với các loại tội phạm khác trong Bộ luật hình sự đã được khởi tố, điều tra.
Qua số liệu trên cho thấy, tình hình các vụ án trộm cắp tài sản được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử hàng năm với số lượng tương đối nhiều, chiếm tỷ lệ cao hơn hẳn so với các loại tội phạm khác như lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, mua bán trái phép chất ma túy, đánh bạc, vi phạm quy đinh về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ…xảy ra trên địa bàn huyện Đức Cơ.
Nguyên nhân của việc hình thành, phát sinh tội Trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Đức Cơ không ngoài những nguyên nhân của tình hình tội phạm nói chung. Đó là các nguyên nhân thuộc các vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục của nước ta trong những năm qua và thời gian gần đây. Qua những vụ án xảy ra trên địa bàn có thể kết luận hành vi phạm tội Trộm cắp tài sản đều xuất phát từ những nguyên nhân sau:

* Nguyên nhân chủ quan:
- Nguyên nhân chủ yếu là do bản thân các bị can không chịu làm ăn, tu dưỡng rèn luyện, thích ăn chơi đua đòi, lười lao động, có thói quen sống buông thả và thích hưởng thụ. Không có tiền để thỏa mãn sở thích cá nhân nên đã dấn thân vào con đường phạm tội.
- Do trình độ, nhận thức của các bị can còn hạn chế. Đa số các bị can đều có trình độ văn hóa thấp, hoặc nhận thức kém, không có ý thức pháp luật và chưa nhận thức được về hành vi phạm tội của mình gây nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh xã hội và trật tự công cộng.

* Nguyên nhân khách quan:
- Một nguyên nhân nữa dẫn đến hành vi phạm tội của các bị can một phần nào cũng do lỗi của gia đình, nhà trường và địa phương.
- Đối với công tác tuyên truyền ý thức pháp luật cho công dân chưa được quan tâm và mở rộng tại địa phương.
- Việc thực hiện hành vi trộm cắp tài sản phần nào cũng do sự sơ hở trong việc quản lý tài sản, tại điều kiện cho loại tội phạm này xảy ra. Xuất phát từ ý thức chủ quan của người quản lý tài sản.

Điển hình vụ án hình sự Phạm Minh Đức và Ngô Văn Hòa phạm tội trộm cắp tài sản:  Trong một khoảng thời gian 2017 hai bị can đã thực hiện 14  vụ trộm cắp xe máy trên địa bàn huyện, các bị can đã đi thực hiện hành vi trộm cắp ở nhiều địa bàn xã trong huyện bằng việc đi tìm và quan sát thấy những xe máy của người dân để ở trong sân và không khóa cổng Các đối tượng đã thực hiện trót lọt 14 vụ. sau khi lấy được tài sản các đối tượng đem đi đục số khung, số máy rồi bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.
Hầu hết các vụ án “Trộm cắp tài sản” xảy ra trên địa bàn đều bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử. Bởi lẽ, các vụ án trộm cắp tài sản xảy ra mang tính chất phức tạp cả về cách thức, thủ đoạn thực hiện hành vi lẫn thiệt hại xảy ra. Vì vậy, Lãnh đạo đơn vị đã phân công cho các Kiểm sát viên có kinh nghiệm, có trình độ năng lực chuyên môn thực hiện công tác tiếp nhận, giải quyết các tin báo, tố giác về tội phạm cũng như KSĐT– THQCT –KSXX đối với các vụ án “Trộm cắp tài sản”.
Những cán bộ, Kiểm sát viên của đơn vị khi được phân công luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm trong việc đầu tư nghiên cứu kỹ hồ sơ ngay từ khi Cơ quan điều tra chuyển hồ sơ đề nghị Viện kiểm sát phê chuẩn bắt khẩn cấp, phê chuẩn khởi tố bị can, phê chuẩn lệnh bắt bị can để tạm giam. Do đó, theo số liệu báo cáo tổng kết năm của 05 năm, các trường hợp Viện kiểm sát phê chuẩn đều đúng theo quy định pháp luật, tại phiên tòa Kiểm sát viên bảo vệ được Cáo trạng truy tố, đề nghị xét xử tội danh, hình phạt và các vấn đề khác có liên quan trong vụ án hầu hết được Hội đồng xét xử chấp nhận; không có trường hợp nào bị Tòa tuyên không phạm tội.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên thì công tác KSĐT – THQCT - KSXX các vụ án “Trộm cắp tài sản” của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Cơ cũng còn tồn tại hạn chế. Đó là, một số vụ án do Kiểm sát viên thực hành quyền công tố - kiểm sát điều tra chưa tốt nên phải trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra bổ sung, cụ thể: năm 2017  trả điều tra bổ sung 02 vụ (vụ Phạm Minh Đức; vụ Hoàng Văn Phong); năm 2018 trả điều tra bổ sung 01 vụ (vụ Bùi Thanh Dũng), 09 tháng đầu năm 2019 trả điều tra bổ sung 02 vụ (vụ Nguyễn Thị Thanh Huệ; vụ Chu Văn Tiến) …

2. Những khó khăn, tồn tại và nguyên nhân của những khó khăn, tồn tại trong công tác kiểm sát các vụ án “Trộm cắp tài sản”:
Thứ nhất, công tác KSĐT – THQCT – KSXX là một trong những khâu công tác trọng tâm, quan trọng của ngành kiểm sát vì công tác này liên quan trực tiếp đến việc xử lý con người, tác động đến các quyền công dân của họ. Vì vậy, khi bố trí cán bộ, Kiểm sát viên thực hiện nhiệm vụ của khâu công tác này ngoài việc bố trí những cán bộ, Kiểm sát viên có chính trị tốt, bản lĩnh, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, có năng lực sở trường công tác còn phải đảm bảo tiêu chí có kinh nghiệm thực tiễn. Trong khi biên chế của đơn vị trong những năm gần đây phần lớn số lượng cán bộ trẻ là chuyên viên, kiểm tra viên, kiểm sát viên mặc dù được đào tạo bài bản, chính quy, đúng chuyên môn nhưng thiếu nhiều kinh nghiệm trong xử lý công việc nên phải mất nhiều thời gian để có thể đảm đương tốt khối lượng công việc của bộ phận kiểm sát án hình sự nói chung và kiểm sát án “Trộm cắp tài sản” nói riêng.
Thứ hai, vẫn còn tình trạng Kiểm sát viên chưa phát huy hết trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ nên đã ảnh hưởng trực tiếp không nhỏ đến chất lượng của công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra như trong công tác kiểm sát khám nghiệm hiện trường và các hoạt động tố tụng khác. Một số vụ án ít nghiêm trọng nhưng vẫn phải gia hạn điều tra. Vẫn còn tình trạng Kiểm sát viên thụ động chờ án, chỉ kiểm sát hồ sơ khi Cơ quan điều tra đã kết thúc điều tra nên không phát hiện được kịp thời để yêu cầu điều tra dẫn đến các tài liệu, chứng cứ thu thập được không đạt yêu cầu, chất lượng hồ sơ chưa đảm bảo phải gia hạn điều tra, gia hạn tạm giam, kéo dài thời hạn giải quyết vụ án.
Thứ ba, trường hợp trộm cắp tài sản có giá trị dưới 02 triệu đồng nhưng “gây hậu quả nghiêm trọng” đã được bãi bỏ, được thay bằng “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội”. Tuy nhiên Bộ luật hình sự năm 2015 chưa quy định thế nào là “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội”sẽ dẫn đến khó khăn trong việc hiểu và áp dụng,vì đây là tình tiết, hậu quả mang tính phi vật chất, việc đánh giá, áp dụng nếu không được hướng dẫn cụ thể sẽ có thể dẫn tới tùy nghi, phụ thuộc vào nhận thức của các cơ quan cũng như người tiến hành tố tụng.
Thứ tư, Công tác tổng kết rút kinh nghiệm, tập hợp và kiến nghị các vi phạm hiệu quả chưa cao, còn mang tính nể nang; chủ yếu thực hiện thông qua việc nhắc nhở, yêu cầu rút kinh nghiệm thông qua các cuộc họp liên ngành nên chưa kịp thời chấm dứt các vi phạm của Cơ quan điều tra.
Thứ năm, Yêu cầu điều tra, Kế hoạch Kiểm sát điều tra, Nhật ký điều tra do Kiểm sát viên xây dựng mặc dù đã thực hiện 100% đối với các vụ án hình sự nhưng vẫn có những bản Yêu cầu điều tra, Kế hoạch Kiểm sát điều tra chất lượng chưa cao, chỉ xây dựng mang tính hình thức, chưa định hướng được cho hoạt động điều tra.

II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT ĐIỀU TRA – THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ - KIỂM SÁT XÉT XỬ ĐỐI VỚI CÁC VỤ ÁN “TRỘM CẮP TÀI SẢN” TẠI VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC CƠ

Căn cứ thực trạng công tác KSĐT – THQCT – KSXX các vụ án Trộm cắp tài sản tại Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Cơ. Để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác KSĐT – THQCT – KSXX các vụ án “Trộm cắp tài sản” nói riêng cũng như các vụ án hình sự nói chung, đảm bảo việc khởi tố, truy tố đúng người, đúng tội, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Cơ đã đưa ra một số giải pháp phù hợp sát với thực tiễn công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra về tội phạm xâm phạm sở hữu nói chung và đối với tội phạm “Trộm cắp tài sản” nói riêng tại đơn vị, cụ thể như sau:

1. Nâng cao ý thức chính trị, phẩm chất đạo đức và trình độ, năng lực chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên.
Với số lượng án ngày càng tăng và tính chất vụ việc ngày càng phức tạp thì việc phân bổ số lượng cán bộ rất quan trọng. Bên cạnh đó, số cán bộ, Kiểm sát viên còn tham gia kiêm nhiệm nhiều công tác chuyên môn khác như kiểm sát tạm giữ, tạm giam; kiểm sát thi hành án hình sự; kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp và các công tác khác của đơn vị như Thống kê, tổng hợp.... Điều này sẽ dẫn đến tình trạng quá tải và đầu tư dàn trải đối với từng khâu công tác. Do đó, chất lượng công tác KSĐT – THQCT – KSXX chưa đạt yêu cầu so với tình hình mới. Tuy nhiên, với số lượng biên chế phân bổ về đơn vị có hạn, từng khâu công tác nghiệp vụ nào cũng có vai trò quan trọng nhất định, cho nên giải pháp đầu tiên của đơn vị đó là tạo điều kiện cho Kiểm sát viên và Chuyên viên thực hiện khâu công tác này được nâng cao trình độ nghiệp vụ thông qua các lớp tập huấn, bồi dưỡng do ngành cấp trên tổ chức. Qua đó, mới kịp thời bổ sung lượng kiến thức mới đáp ứng được với sự thay đổi của tình hình mới, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay áp dụng các bộ luật mới.
Mặt khác, bên cạnh đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, Kiểm sát viên hiện làm khâu công tác này, Lãnh đạo đơn vị còn định hướng đào tạo nguồn cán bộ hiện có của các bộ phận khác không để tình trạng một cán bộ, công chức chỉ biết một khâu hoặc tình trạng không có cán bộ công chức khác thay thế khi cán bộ công chức làm công tác này có nhiệm vụ đột xuất hoặc nghỉ phép. Đây là giải pháp quan trọng và cần thiết để các cán bộ Kiểm sát viên có thể cũng học hỏi và hỗ trợ cho nhau trong công tác  chuyên môn nghiệp vụ.
Bên cạnh đó, được sự quan tâm, tạo điều kiện của Lãnh đạo đơn vị, thì bản thân mỗi Kiểm sát viên, Chuyên viên làm công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra nói riêng và Kiểm sát viên, Chuyên viên trong đơn vị nói chung không ngừng nỗ lực học hỏi, nâng cao ý thức trách nhiệm, có tâm huyết cao trong công việc để không những hoàn thành tốt nhiệm vụ cho bản thân mà còn hướng đến lợi ích chung cho tập thể đơn vị.

2. Nâng cao hoạt động Kiểm sát điều tra – Thực hành quyền công tố các vụ án “ Trộm cắp tài sản” của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Cơ
- Trước hết, cần thực hiện tốt công tác kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Đây là khâu công tác kiểm sát quan trọng trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân, nhằm đảm bảo mọi hành vi phạm tội đều được phát hiện, xử lý kịp thời theo pháp luật.
Chủ động phối hợp chặt chẽ với Cơ quan điều tra trong việc nắm, quản lý, phân loại và giải quyết các tin báo, tố giác về tội phạm “ Trộm cắp tài sản”. Khẩn trương xác minh, thu thấp chứng cứ để làm rõ đối tượng; đánh giá hành vi, định giá tài sản theo quy định Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Khi Cơ quan điều tra chuyển hồ sơ đề nghị Viện kiểm sát phê chuẩn Lệnh bắt khẩn cấp, khởi tố bị can, lệnh bắt bị can để tạm giam, Lệnh tạm giam. Kiểm sát viên cần kiểm sát chặt chẽ các biên bản sự việc ban đầu; kết luận định giá tài sản, …. Kiểm sát viên phải nghiên cứu kỹ, toàn diện các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án do Cơ quan điều tra thu thập được. Khi nghiên cứu Kiểm sát viên luôn chú ý đến các chứng cứ buộc tội và cả chứng cứ gỡ tội. Lãnh đạo đơn vị chỉ đạo Kiểm sát viên 100 % các vụ án khi phê chuẩn Quyết định khởi tố bị can Kiểm sát viên phải trực tiếp hỏi cung bị can và khi cần thiết kiểm sát viên ghi lời khai nhân chứng, cho người bị bắt viết bản tự khai…để đảm bảo chứng cứ trong việc phê chuẩn bị can.
Trong quá trình điều tra, Kiểm sát viên và Điều tra viên phải phối hợp chặt chẽ với nhau. Nếu trong quá trình điều tra vụ án, phát sinh những vướng mắc, khó khăn thì Kiểm sát viên và Điều tra viên phải thảo luận trước để tìm giải pháp đồng thời báo cáo ngay với Lãnh đạo hai ngành để kịp thời giải quyết vướng mắc.

Kiểm sát viên phải theo dõi sát, nắm tiến độ của vụ án, đề ra yêu cầu điều tra kịp thời có thể trao đổi miệng nhưng tốt hơn hết là bằng văn bản với từng vấn đề cần chứng minh, làm rõ trong vụ án. Yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên không chỉ yêu cầu làm rõ động cơ, mục đích, tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị can, nhân thân, nguyên nhân, điều kiện phạm tội của bị can mà còn làm rõ những vấn đề khác liên quan đến vụ án như tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị can, vật chứng, trách nhiệm dân sự của vụ án.

Để tránh tình trạng trả điều tra bổ sung làm kéo dài thời gian giải quyết vụ án, ảnh hưởng công tác KSĐT – THQCT Lãnh đạo hai ngành đã chỉ đạo Kiểm sát viên và  Điều tra viên phải thực hiện nghiêm chỉnh việc trước khi kết thúc điều tra khoảng 10 ngày, Kiểm sát viên và Điều tra viên có một buổi làm việc để đánh giá toàn diện những chứng cứ, tài liệu thu thập được trong hồ sơ. Tài liệu hồ sơ chưa đầy đủ phải được khắc phục ngay ở giai đoạn điều tra, để khi chuyển hồ sơ đề nghị truy tố Kiểm sát viên vừa nắm được đầy đủ nội dung vụ án, nắm được các tài liệu đã thu thập được, trên cơ sở đó chuẩn bị xây dựng nội dung Cáo trạng một cách tốt nhất theo đúng quy định tại Điều 167 BLTTHS hiện hành.
         
Đối với các vụ án Trộm cắp tài sản phức tạp trong việc xác định tội danh, người thực hiện hành vi trong vụ án đồng phạm thì Kiểm sát viên cần báo cáo lãnh đạo tổ chức họp liên ngành để thống nhất, đảm bảo điều tra, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Trước khi xây dựng đề xuất truy tố bằng bản Cáo trạng, Kiểm sát phải thực hiện việc phúc cung tổng hợp, cần thiết lấy lời khai của người bị hại, nhân chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhất là trong trường hợp bị can không nhận tội, phản cung, có mâu thuẫn về chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án để từ đó đề xuất đường lối xử lý vụ án, bị can có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Việc phúc cung, cũng giúp cho Kiểm sát viên nắm bắt được tâm lý của bị can, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, nhân chứng; vững tin hơn trong việc chuẩn bị công tác THQCT-KSXX khi tham gia xét xử tại phiên tòa.
Kiểm sát viên phải lập hồ sơ kiểm sát theo đúng quy định, có đầy đủ tài liệu chứng cứ cần thiết để tạo điều kiện thuận lợi cho giai đoạn THQCT-KSXX.

3.  Giải pháp nâng cao hoạt động Kiểm sát điều tra – Thực hành quyền các vụ án “ Trộm cắp tài sản” của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Cơ.
Để nâng cao chất lượng hoạt động THQCT - KSXX đối với các vụ án hình sự nói chung và các vụ án trộm cắp tài sản nói riêng, thì nhất thiết Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phải trực tiếp nghiên cứu hồ sơ vụ án.
Việc nghiên cứu kỹ hồ sơ giúp Kiểm sát viên sớm phát hiện những thiếu sót trong công tác điều tra, thu thập chứng cứ. Trường hợp phát hiện hồ sơ không đầy đủ các chứng cứ hoặc vi phạm thủ tục tố tụng thì có văn bản đề nghị Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung để đảm bảo việc truy tố.
Việc nghiên cứu vụ án giúp Kiểm sát viên ghi nhớ, tổng hợp, đánh giá, phân tích toàn bộ vụ án từ đó chuẩn bị kỹ nội dung đề cương xét hỏi, dự kiến tình huống phát sinh, tranh luận tại phiên tòa, dự thảo nội dung trình bày lời luận tội;
Bên cạnh việc nghiên cứu vụ án, Kiểm sát viên cần chuẩn bị đầy đủ các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn liên quan đến vụ án...giúp cho việc tranh luận đối đáp tại phiên tòa thêm sắc bén.
Ngoài việc chuẩn bị kỹ càng về mặt hồ sơ, tài liệu thì Kiểm sát phải chuẩn bị cả về mặt tâm lý. Tất nhiên yếu tố tâm lý không phải là quan trọng nhất nhưng lại quyết định đến hiệu quả của công tác THQCT-KSXX tại phiên tòa. Vì mọi cử chỉ, thái độ, phong thái, ứng xử của người Kiểm sát viên tại phiên tòa thể hiện “ hình ảnh” “ bộ mặt” của ngành Kiểm sát do đó mà việc chuẩn bị tâm lý để THQCT-KSXX cũng được coi trọng. Do đó, công tác chuẩn bị cho việc xét xử  tại phiên tòa càng kỹ thì hiệu quả hoạt động THQCT-KSXX của Kiểm sát viên đạt được càng cao.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phải chủ động tham gia xét hỏi cùng Hội đồng xét xử; tranh luận, đối đáp với bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của họ để làm sáng tỏ nội dung vụ án, giúp Hội đồng xét xử xét xử đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Nói chung, giai đoạn THQCT - KSXX tại phiên tòa, Kiểm sát viên có nhiều áp lực hơn trong giai đoạn THQCT - KSĐT vì trong một thời gian ngắn, KSV phải tập trung cao độ để vừa phải kiểm sát hoạt động tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng tại phiên tòa là Hội đồng xét xử, thư ký; vừa kiểm sát hoạt động tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng, và việc tham dự phiên tòa của những người đến tham dự phiên tòa là người thân bị cáo, người thân bị hại…Do đó việc thực hiện những kỹ năng, giải pháp trên đây theo cá nhân tôi là cần thiết.

4. Nâng cao chất lượng quản lý, chỉ đạo, điều hành công tác THQCT, KSĐT.
Theo khoản 1 Điều 7 Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân năm 2014 thì: 
“ Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên. Viện trưởng các Viện kiểm sát cấp dưới chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao”.
Điều này cho thấy vai trò quan trọng của người đứng đầu Viện kiểm sát nhân dân các cấp. Viện trưởng không chỉ là người giữ vai trò quản lý, chỉ đạo, điều hành mọi hoạt chung của đơn vị mà là người có vai trò quan trọng, quyết định đến chất lượng, hiệu quả hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra.
Thực tiễn tại Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Cơ cho thấy các vụ án nói chung và các vụ án trộm cắp tài sản nói riêng ngày càng tăng về số lượng và tính chất, thủ đoạn thực hiện hành vi ngày càng phức tạp. Trong khi đó, số lượng Kiểm sát viên và cán bộ trực tiếp làm công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra còn mỏng. Do đó, Lãnh đạo đơn thường xuyên quan tâm đến công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra và theo dõi chặt chẽ, sát sao mọi hoạt động tham gia tố tụng của cán bộ, Kiểm sát viên để kịp thời phát hiện mọi thiếu sót, vi phạm của cán bộ, Kiểm sát viên để có biện pháp uốn nắn, chấn chỉnh kịp thời, qua đó khẳng định tiếng nói và uy tín của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Cơ nói riêng và của ngành kiểm sát nhân dân nói chung đối với cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương và các cơ quan tư pháp trên địa bàn huyện.

5.  Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tổng hợp vi phạm, thực hiện việc kiến nghị.
Thông qua công tác kiểm sát, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Cơ phát hiện vi phạm của các cơ quan tư pháp và tổng hợp, thực hiện quyền năng kiến nghị, yêu cầu các cơ quan tư pháp khắc phục và chấm dứt vi phạm. Đây là chức năng đặc thù của ngành kiểm sát nhân dân và đã được cụ thể hoá trong Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014; Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 và các văn bản qui phạm pháp luật có liên quan.
Riêng đối với Cơ quan điều tra, thông qua công tác công tác KSĐT – THQCT – KSXX, Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm đảm bảo hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra tuân thủ theo đúng qui trình của Bộ luật tố tụng hình sự. Thông qua công tác kiểm sát, Viện kiểm sát nhân dân phát hiện và tổng hợp vi phạm của Cơ quan điều tra để tiến hành kiến nghị, yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm của Điều tra viên và cán bộ điều tra.
Qua công tác công tác KSĐT – THQCT – KSXX, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Cơ đã phát hiện nhiều vi phạm của Điều tra viên và cán bộ khi tiến hành điều tra. Viện kiểm sát đã yêu cầu Cơ quan điều tra khắc phục, sửa chữa thông qua việc nhắc nhở bằng miệng hoặc ban hành kiến nghị, yêu cầu.
Tuy nhiên một thực tế xảy ra do một số cán bộ, Kiểm sát viên còn có tâm lý nể nang, ngại  chạm, “dĩ hoà vi quý” nên không mạnh dạn tham mưu, đề xuất Lãnh đạo đơn vị ban hành kiến nghị, yêu cầu. Việc không ban hành kiến nghị, yêu cầu mà chỉ nhắc nhở miệng vô hình chung đã tạo tiền lệ xấu khi cán bộ, Điều tra viên tiến hành điều tra không tuân thủ qui định của pháp luật vì có sai phạm thì sửa chữa, làm lại cũng chẳng sao và cũng chẳng chịu bất cứ một trách nhiệm pháp lý nào. Do đó, Lãnh đạo đơn vị đã chỉ đạo Kiểm sát viên nêu cao tinh thần trách nhiệm, đầu tư nghiên cứu để phát hiện vi phạm của Cơ quan điều tra. Từ đó, mạnh dạn đề xuất Lãnh đạo đơn vị ban hành kiến nghị, yêu cầu Cơ quan điều tra chấm dứt vi phạm, đây cũng là chỉ tiêu đơn vị đưa ra cho Kiểm sát viên để xem xét thi đua khen thưởng cuối năm. Điều này  thể hiện được bản lĩnh, vai trò của cán bộ, Kiểm sát viên khi thực hiện nhiệm vụ và góp phần không nhỏ vào việc nâng cao chất lượng công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra.

6. Nâng cao hiệu quả mối quan hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra - Viện kiểm sát – Tòa án.
Mặc dù là cơ quan có vị trí, chức năng đặc biệt trong hệ thống các cơ quan tư pháp song việc thực thi chức năng nhiệm vụ của Viện kiểm sát chỉ có thể thực hiện được khi đặt nó trong mối quan hệ với các cơ quan tiến hành tố tụng khác. Trong giai đoạn thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, đó là mối quan hệ giữa Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra trong giải quyết các vụ án hình sự, trong giai đoạn THQCT – KSXX là mối quan hệ giữa Viện kiểm sát và Tòa án. Đây là mối quan hệ độc lập dựa trên cơ sở các quy định của pháp luật trong các hoạt động chức năng suốt quá trình điều tra, đảm bảo quyền, lợi ích của công dân và các tổ chức xã hội. Các mối quan hệ đó có thể có tác động tích cực hoặc tiêu cực đến quá trình giải quyết các vụ án hình sự trong đó nhận thức, thái độ và sự tuân thủ pháp luật, chất lượng của công tác thực hiện chức năng của Cơ quan điều tra và các Điều tra viên - những người trực tiếp tiến hành hoạt động tố tụng có ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra của Viện kiểm sát.
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác phối hợp trên, Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Cơ và Lãnh đạo Cơ quan điều tra, Tòa án đã tăng cường công tác phối hợp, trao đổi giữa ba ngành theo đúng quy chế phối hợp liên ngành đã được ký kết thống nhất trước đó. Lãnh đạo đơn vị chủ trì  tổ chức các cuộc họp liên ngành hàng tháng để bàn thống nhất đường lối, quan điểm xử lý đối với các vụ án hình sự phức tạp. Việc tổ chức cuộc họp liên ngành hàng tháng  giúp đơn vị kịp thời nắm bắt được các hoạt động tố tụng của Cơ quan điều tra để phát hiện vi phạm và kiến nghị kịp thời, bên cạnh đó cũng tránh tình trạng bị động trong công tác KSĐT – THQCT – KSXX.
Ngoài sự tác động, phối hợp giữa lãnh đạo ba ngành thì mối quan hệ phối hợp giữa Kiểm sát viên và Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán thụ lý vụ án là hết sức cần thiết và quan trọng.

Bên cạnh đó, lãnh đạo Viện kiểm sát luôn quan tâm và phối hợp chặt chẽ với cơ quan Tòa án cùng để tăng cường đưa ra xét xử lưu động các vụ án hình sự nhất là các trộm cắp. Thông qua đó nhằm tuyên truyền để người dân nắm và hiểu được các qui định của pháp luật, biết các phương thức thủ đoạn thực hiện tội phạm của các đối tượng thực hiện hành vi phạm tội để người dân tự bảo vệ tài sản của chính mình, nhằm hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng phạm tội xâm phạm sở hữu xảy ra trên địa bàn.
Với những giải pháp đưa ra Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Cơ nâng cao công tác KSĐT – THQCT – KSXX theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và quy chế Ngành, đảm bảo việc khởi tố, truy tố, xét xử đúng người đúng pháp luật cũng như việc bắt, giam, giữ đúng quy định, không để xảy ra oan sai. Tiếp tục quán triệt và thực hiện Nghị quyết 49 của Bộ chính trị, quán triệt và triển khai thực hiện các Chỉ thị, Kế họạch của cấp trên và cấp ủy về công tác kiểm sát trong năm. Phối hợp chặt chẽ với Cơ quan điều tra, Tòa án trong đấu tranh phòng chống tội phạm, ba ngành cần xác định những vụ án trọng điểm, đưa ra xét xử nhằm tuyên truyền pháp luật, răn đe đối với các hành vi phạm tội, động viên khích lệ nhân dân tham gia đấu tranh phòng chống tội phạm.

C. KẾT LUẬN

Đứng trước tình hình tội phạm xảy ra ngày càng nhiều, tội phạm trộm cắp tài sản cũng nằm trong xu hướng đó, nó không chỉ là hành vi nguy hiểm, xâm hại trực tiếp tới quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của công dân, tổ chức đã được Nhà nước và pháp luật bảo vệ mà nó còn ảnh hưởng đến an ninh xã hội, trật tự công cộng và gây tâm lý hoang mang, lo lắng cho nhân dân. Vì vậy công tác KSĐT – THQCT – KSXX đối với các vụ án trộm cắp tài sản nói riêng cũng như các vụ án hình sự nói chung cần được nâng cao. Trong thời gian ngắn, những giải pháp chúng  tôi đưa ra chưa thực sự hoàn hảo, kinh nghiệm nhưng để hoàn thiện với mục đích cuối cùng là làm thế nào để nâng cao công tác KSĐT – THQCT – KSXX các vụ án trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Đức Cơ nói riêng và công tác KSĐT-THQCT-KSXX nói chung nhằm thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được phân công.

Vấn đề nhóm tác giả nghiên cứu trên đây được trình bày trong phạm vi giới hạn tại địa phương, đơn vị Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Cơ, với mong muốn được đồng nghiệp và bạn đọc cùng trao đổi, đóng góp xây dựng để được hoàn thiện hơn, góp phần tích cực trong việc nâng cao hiệu quả công tác Thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra và kiểm sát xét xử đối với loại tội phạm “Trộm cắp tài sản”./.

Tác giả bài viết: Ksor Hùng - Đinh Thanh Bình

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 
top