15:27 +07 Chủ nhật, 18/08/2019
CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH DẠY KIỂM SÁT VIÊN PHẢI : " CÔNG MINH, CHÍNH TRỰC, KHÁCH QUAN, THẬN TRỌNG, KHIÊM TỐN ".                                                                                                                                               VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI HƯỞNG ỨNG CUỘC VẬN ĐỘNG: XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, KIỂM SÁT VIÊN : "VỮNG VỀ CHÍNH TRỊ, GIỎI VỀ NGHIỆP VỤ, TINH THÔNG VỀ PHÁP LUẬT, CÔNG TÂM VÀ BẢN LĨNH, KỶ CƯƠNG VÀ TRÁCH NHIỆM ".

TRANG LIÊN KẾT

VKSND tỉnh Gia Lai
Cổng thông tin điện tử Gia lai
Tạp chí Kiểm sát
tỉnh ủy gia lai
baovepl
Kiểm sát viên cần biết
Luật Việt Nam
mail công vụ

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang truy cậpĐang truy cập : 29


Hôm nayHôm nay : 482

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 11938

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 1241827

Liên hệ QC Trái

Trang nhất » Tin Tức Chung » Công tố - Kiểm sát

Hưởng ứng giải Búa liềm vàng : giải báo chí toàn quốc về xây dựng Đảng

Vì sao vụ án “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” bị hủy án để giải quyết lại

Thứ năm - 01/09/2016 07:29
Nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự; Trang thông tin điện tử Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai trích đăng vụ án KDTM bị Hội đồng Thẩm phán TANDTC xử hủy án để bạn đọc tham khảo:

Kỳ 3: Vụ án “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”, giữa nguyên đơn bà T với bị đơn bà H, ông N.

Tại hợp đồng kinh tế số 124 kí ngày 28/9/2010, giữa bà T và vợ chồng bà H, ông N có nội dung: Bà T mua của bà H, ông N 50 tấn cà phê nhân xô rô theo quy cách cà phê đạt tiêu chuẩn mùa vụ 2010 - 2011, tạp chất 1%, độ ẩm 15 độ trên két 2, hàng không mốc, không có mùi lạ, đơn giá 29.000 đồng/kg, thành tiền là 1.450.000.000 đồng; thời gian giao hàng là ngày 30/12/2010; phương thức thanh toán tiền: bà T sẽ thanh toán tiền mặt cho ông N, bà H 100% giá trị tiền hàng sau khi bà H, ông N giao hàng đủ (Hợp đồng không có ứng tiền trước). Hai bên cam kết thực hiện đúng các điều khoản trong hợp đồng nếu bên nào đơn phương vi phạm hợp đồng phải hoàn toàn chịu trách nhiệm và bồi thường toàn bộ thiệt hại vật chất cho bên kia.
Tiếp đó, bà T kí kết hợp đồng số 489 ngày 30/9/2010 với nội dung: bà T bán cho Công ty A 64,8 tấn cà phê nhân Robusta, đơn giá chưa có thuế giá trị gia tăng là 30.000 đồng/kg. Phía bên bị đơn là vợ chồng bà H và ông N không biết, cũng như không có liên quan gì đến giao dịch này. Bà T đã được Công ty A tạm ứng trước 70% giá trị hợp đồng và Công ty A đã thực hiện giải ngân số tiền tạm ứng này cho bà T vào các ngày 08, 30 tháng 12 năm 2010 với tổng số tiền là 1.944.000.000 đồng.

Đến ngày 30/12/2010 là hạn cuối cùng mà bà H, ông N phải thực hiện giao 50.000 kg cà phê theo hợp đồng số 124 nêu trên nhưng vợ chồng bà H, ông N không thực hiện mà mãi đến các ngày 03, 05, 12, 17 tháng 01 năm 2011 mới giao được 20.862 kg cho bà T và còn nợ lại 29.138 kg. Lý do: Sau khi kí hợp đồng giá cà phê tăng cao và hợp đồng không có ứng tiền trước, dẫn đến không thực hiện được việc giao hàng như đã cam kết.

Do bà H và ông N vi phạm hợp đồng, bà T không có hàng để giao cho Công ty A và sợ bị phạt vi phạm hợp đồng, nên ngày 20/02/2011 bà T làm đơn xin Công ty A cho gia hạn hợp đồng đến ngày 20/3/2011. Ngày 08/3/2011, bà T kí hợp đồng kinh tế số 35 với bà P để mua 29.138 kg cà phê nhân xô theo quy cách: tạp chất 1%, độ ẩm 15 độ trên két 2, hàng không mốc, không có mùi lạ, đơn giá là 46.100 đồng/kg về giao cho Công ty A theo hợp đồng đã kí kết. Do vậy, làm phát sinh khoản tiền chênh lệch giá với số tiền 498.259.8000 đồng (17.100 đồng/kg x 29.238 kg). Bà T khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông N, bà H phải bồi thường cho bà số tiền chênh lệnh này.

Tại bản án sơ thẩm số 03/2011/KDTM-ST, Tòa án nhân dân huyện G đã quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T; buộc bà H, ông N phải liên đới thanh toán cho bà T khoản tiền chênh lệch giá do vi phạm hợp đồng với số tiền 498.259.8000 đồng. Bà H và ông N đã kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai đã ban hành bản án phúc thẩm số 06/2011/KDTM-PT, xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Qua công tác giải quyết đơn khiếu nại giám đốc thẩm và kiểm sát bản án phúc thẩm nêu trên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đã phát hiện bản án sơ thẩm và phúc thẩm của Tòa án hai cấp tỉnh Gia Lai có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật nên đã báo cáo, đề nghị Viện kiểm sát nhân dân tối cao xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.
Đến ngày 15/6/2012, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành kháng nghị giám đốc thẩm số 22/QĐ-KNGĐT-V12, đề nghị Tòa Kinh tế TAND tối cao xử hủy toàn bộ bản án phúc thẩm và sơ thẩm nêu trên. Tuy nhiên, tại Quyết định giám đốc thẩm số 24/2012/KDTM-GĐT ngày 19/9/2012, Tòa Kinh tế TAND tối cao đã quyết định không chấp nhận kháng nghị, giữ nguyên bản án phúc thẩm của TAND tỉnh Gia Lai.

Đến ngày 14/7/2015, Chánh án TAND tối cao quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 50/2015/KN-KDTM và kháng nghị này được Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy toàn bộ quyết định giám đốc thẩm, bản án phúc thẩm, sơ thẩm nêu trên, giao hồ sơ cho TAND huyện G xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật; với lý do: Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm đã chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà T buộc bà H, ông N phải thanh toán số tiền chênh lệch giá là 498.259.800 đồng là không có căn cứ. Quyết định giám đốc thẩm của Tòa Kinh tế TAND tối cao đã không phát hiện ra những sai lầm của Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm, không chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng VKSND tối cao là không đúng.
         
Sai lầm trong áp dụng pháp luật và những vấn đề cần rút kinh nghiệm: 


Việc vợ chồng ông N, bà H nhiều lần đàm phán với bà T để yêu cầu bà T ứng tiền để vợ chồng ông thực hiện hợp đồng và giao hàng đầy đủ cho bà T thể hiện phía bị đơn đã có thiện chí áp dụng các biện pháp hợp lý để hạn chế tổn thất khi một bên vi phạm hợp đồng do giá cà phê tăng cao, là phù hợp với quy định tại Điều 305 Luật Thương mại năm 2005. Tuy nhiên, ngày 17/01/2011, khi bà T biết việc bà H, ông N không thực hiện được việc giao hàng và ngay cả khi vợ chồng bà H, ông N đã có thiện chí nhiều lần đàm phán với bà T để yêu cầu bà T cho tạm ứng tiền để bà H thực hiện việc giao hàng đầy đủ cho bà T nhưng bà T đã không thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ áp dụng biện pháp hợp lý để hạn chế tổn thất đáng lẽ có thể hạn chế được ngay tại thời điểm tháng 01/2011 – khi giá cà phê ngày 12/01/2011 đang ở mức 38.000 đồng/kg - mà thay vào đó sau một thời gian dài (từ ngày 17/01/2011 đến ngày 08/3/2011), bà T mới có đơn xin gia hạn hợp đồng với Công ty A để thực hiện hợp đồng và mới thực hiện việc kí kết hợp đồng số 35 ngày 08/3/2011 với bà P để mua 29.138 kg cà phê nhân với đơn giá chưa bao gồm VAT là 46.100 đồng/kg, dẫn đến khoản tiền chênh lệch 498.259.800 đồng, là không phù hợp với quy định tại Điều 305 Luật Thương mại năm 2005.

 Như vậy, số tiền chênh lệch này là tổn thất đáng lẽ ra có thể hạn chế được, nhưng bà T đã không thực hiện nghĩa vụ áp dụng biện pháp hợp lí để hạn chế tổn thất đáng lẽ ra có thể hạn chế được ngay từ thời điểm ngày 17/01/2011 khi phía bà H, ông N không có khả năng giao hàng tiếp. Do đó, bà T cũng có lỗi trong việc để xảy ra thiệt hại số tiền 498.259.800 đồng. Bà T hoàn toàn có khả năng áp dụng biện pháp hợp lý để hạn chế tổn thất như đã nêu bởi trước đó bà T đã được phía Công ty A cho tạm ứng trước số tiền 1.944.000.000 đồng. Việc bà T yêu cầu vợ chồng bà H, ông N phải có trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại với số tiền 498.259.800 đồng, là không đúng quy định tại Điều 303, Điều 305 của Luật Thương mại năm 2005.

Bên cạnh đó, các hợp đồng mua bán cà phê nêu trên là độc lập nhau, không có điều khoản thỏa thuận ràng buộc trách nhiệm của bên thứ ba và về quy cách, chất lượng hàng hóa cũng khác nhau. Toà án hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm cho rằng việc bà H, ông N vi phạm hợp đồng đã gây thiệt hại trực tiếp cho bà T số tiền 498.259.800 đồng là không khác quan, có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật; thể hiện việc đánh giá chứng cứ thiếu khách quan, không toàn diện và đầy đủ, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng quy định tại Điều 96 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 (nay là Điều 108 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015).

Vấn đề cần lưu ý: Trong quá trình kiểm sát giải quyết các vụ án kinh doanh thương mại có liên quan đến chế tài “Buộc bồi thường thiệt hại” cần nghiên cứu kỹ các quy định của Luật Thương mại năm 2005 về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại (Điều 303), nghĩa vụ chứng minh tổn thất (Điều 304) và quy định về nghĩa vụ hạn chế tổn thất (Điều 305)./.

Tác giả bài viết: Nguyễn Thành Duy

Tổng số điểm của bài viết là: 50 trong 10 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 
Học tập và làm theo tấm gương đạo đức HCM
top