07:15 +07 Thứ hai, 14/10/2019
CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH DẠY KIỂM SÁT VIÊN PHẢI : " CÔNG MINH, CHÍNH TRỰC, KHÁCH QUAN, THẬN TRỌNG, KHIÊM TỐN ".                                                                                                                                               VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI HƯỞNG ỨNG CUỘC VẬN ĐỘNG: XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, KIỂM SÁT VIÊN : "VỮNG VỀ CHÍNH TRỊ, GIỎI VỀ NGHIỆP VỤ, TINH THÔNG VỀ PHÁP LUẬT, CÔNG TÂM VÀ BẢN LĨNH, KỶ CƯƠNG VÀ TRÁCH NHIỆM ".

TRANG LIÊN KẾT

VKSND tỉnh Gia Lai
Cổng thông tin điện tử Gia lai
Tạp chí Kiểm sát
tỉnh ủy gia lai
baovepl
Kiểm sát viên cần biết
Luật Việt Nam
mail công vụ

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang truy cậpĐang truy cập : 41

Máy chủ tìm kiếm : 7

Khách viếng thăm : 34


Hôm nayHôm nay : 845

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 12966

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 1283373

Liên hệ QC Trái

Trang nhất » Tin Tức Chung » Công tố - Kiểm sát

Hưởng ứng giải Búa liềm vàng : giải báo chí toàn quốc về xây dựng Đảng

Giới thiệu một số quy định mới của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017

Thứ sáu - 20/10/2017 10:00
Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 (Luật số 10/2017/QH14) được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 20 tháng 6 năm 2017; có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2018 (thay thế Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước số 35/2009/QH12).

Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (sau đây viết tắt là Luật TNBTCNN) năm 2017 gồm 09 chương, 78 điều. So với Luật hiện hành, Luật TNBTCNN năm 2017 đã sửa đổi 54/67 điều, bỏ 13 điều và quy định mới 24 điều. Luật TNBTCNN năm 2017 kết cấu chương theo những vấn đề cơ bản của việc giải quyết bồi thường, bảo đảm bố cục rõ ràng, mạch lạc hơn, cụ thể như sau:

- Chương I. Những quy định chung, gồm 16 điều (Điều 1 đến Điều 16);
- Chương II. Phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, gồm 05 điều (Điều 17 đến Điều 21);
- Chương III. Thiệt hại được bồi thường, gồm 11 điều (Điều 22 đến Điều 32);
- Chương IV. Cơ quan giải quyết bồi thường, gồm 08 điều (Điều 33 đến Điều 40);
- Chương V. Thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường, gồm 02 mục:
+ Mục 1: Giải quyết yêu cầu bồi thường tại cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại, gồm 11 điều (Điều 41 đến Điều 51);
+ Mục 2: Giải quyết vụ án dân sự về yêu cầu bồi thường, giải quyết yêu cầu bồi thường trong quá trình tố tụng hình sự, tố tụng hành chính tại Tòa án, gồm 04 điều (Điều 52 đến Điều 55);
+ Mục 3: Phục hồi danh dự, gồm 04 điều (Điều 56 đến Điều 59). 
- Chương VI. Kinh phí bồi thường và thủ tục chi trả, gồm 04 điều (Điều 60 đến Điều 63);
- Chương VII. Trách nhiệm hoàn trả, gồm 09 điều (Điều 64 đến Điều 72);
- Chương VIII. Trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong công tác bồi thường nhà nước, gồm 03 điều (Điều 73 đến Điều 75);
- Chương IX. Điều khoản thi hành, gồm 03 điều (Điều 76 đến Điều 78).

Về một số nội dung sửa đổi, bổ sung cơ bản, như sau:

1. Về Nguyên tắc bồi thường của Nhà nước: Bổ sung một số nguyên tắc mới (Điều 4), cụ thể là:
“1. Việc bồi thường của Nhà nước được thực hiện theo quy định của Luật này.
2. Việc giải quyết yêu cầu bồi thường được thực hiện kịp thời, công khai, bình đẳng, thiện chí, trung thực, đúng pháp luật; được tiến hành trên cơ sở thương lượng giữa cơ quan giải quyết bồi thường và người yêu cầu bồi thường theo quy định của Luật này.
Việc giải quyết yêu cầu bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự được thực hiện tại cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại theo quy định tại Mục 1 Chương V của Luật này.
3. Người yêu cầu bồi thường đã yêu cầu một trong các cơ quan giải quyết bồi thường quy định tại khoản 7 Điều 3 của Luật này giải quyết yêu cầu bồi thường và đã được cơ quan đó thụ lý giải quyết thì không được yêu cầu cơ quan có thẩm quyền khác giải quyết yêu cầu bồi thường, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 52 của Luật này.
4. Nhà nước giải quyết yêu cầu bồi thường sau khi có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường hoặc kết hợp giải quyết yêu cầu bồi thường trong quá trình tố tụng hình sự, tố tụng hành chính tại Tòa án đối với yêu cầu bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thi hành án hình sự, thi hành án dân sự theo quy định của Luật này.
5. Trường hợp người bị thiệt hại có một phần lỗi trong việc gây ra thiệt hại thì Nhà nước chỉ bồi thường phần thiệt hại sau khi trừ đi phần thiệt hại tương ứng với phần lỗi của người bị thiệt hại”.

2. Về thời hiệu yêu cầu bồi thường: Luật TNBTCNN năm 2017 quy định thời hiệu yêu cầu bồi thường là 03 năm (Luật hiện hành quy định thời hiệu là 2 năm) kể từ ngày người có quyền yêu cầu bồi thường nhận được văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường, trừ một số trường hợp sau (khoản 1 và khoản 2 Điều 6).
Ngoài ra, tại Điều 6 còn có quy định về thời gian không tính vào thời hiệu yêu cầu bồi thường:
- Khoảng thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan theo quy định của Bộ luật Dân sự làm cho người có quyền yêu cầu bồi thường quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 5 của Luật này không thể thực hiện được quyền yêu cầu bồi thường;
- Khoảng thời gian mà người bị thiệt hại là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi chưa có người đại diện theo quy định của pháp luật hoặc người đại diện đã chết hoặc không thể tiếp tục là người đại diện cho tới khi có người đại diện mới.

3. Về văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường: Luật TNBTCNN năm 2017 bổ sung quy định cụ thể về các loại văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án (các điều 8, 9, 10, 11, 12).

4. Về phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước:
4.1. Phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính
Luật TNBTCNN năm 2017: Bổ sung một số trường hợp mới, đồng thời, bỏ quy định điều khoản quét; cụ thể, bổ sung các trường hợp sau:
- Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả vi phạm hành chính trái pháp luật: Buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, vật phẩm; buộc thu hồi sản phẩm, hàng hóa không đảm bảo chất lượng" (khoản 3 Điều 17) ;
- Áp dụng biện pháp xử lý hành chính trái pháp luật: "Giáo dục tại xã, phường, thị trấn" (khoản 5 Điều 17);
- Không áp dụng hoặc áp dụng không đúng quy định của Luật Tố cáo các biện pháp bảo vệ người tố cáo khi người đó yêu cầu (khoản 6 Điều 17);
- Thực hiện hành vi bị nghiêm cấm theo quy định của Luật Tiếp cận thông tin về cố ý cung cấp thông tin sai lệch mà không đính chính và không cung cấp lại thông tin (khoản 7 Điều 17).
4.2. Phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự
Luật TNBTCNN năm 2017 bổ sung quy định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với các trường hợp sau:
+ Giữ người trong trường hợp khẩn cấp mà không có căn cứ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và người đó không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật (khoản 1 Điều 18);
+ Pháp nhân thương mại bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án mà cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định pháp nhân đó không thực hiện hành vi phạm tội (khoản 9 Điều 18);
+ Cá nhân, tổ chức khác có liên quan bị thiệt hại do việc thu giữ, tạm giữ, kê biên, tịch thu, xử lý tài sản (khoản 10 Điều 18).
4.3. Về phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tố tụng dân sự, tố tụng hành chính
- Mở rộng trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với trường hợp trên theo hướng bồi thường đối với cả lỗi vô ý, đồng thời xác định rõ các điều kiện được bồi thường "Ra bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị cơ quan có thẩm quyền kết luận là trái pháp luật mà người ra bản án, quyết định đó bị xử lý kỷ luật, xử lý trách nhiệm hình sự" (khoản 5 Điều 19);  
- Cụ thể hóa trường hợp “làm sai lệch hồ sơ vụ án” bằng các hành vi và hậu quả như sau:thêm, bớt, sửa đổi, đánh tráo, hủy hoặc làm hư hỏng tài liệu, chứng cứ hoặc bằng hành vi khác làm sai lệch nội dung vụ án, vụ việc dẫn đến việc ban hành bản án, quyết định trái pháp luật” (khoản 6 Điều 19).
4.4. Các trường hợp Nhà nước không bồi thường
Luật TNBTCNN năm 2017 sửa đổi, bổ sung quy định đầy đủ, cụ thể hơn về nguyên tắc để xác định các trường hợp thiệt hại Nhà nước không bồi thường (khoản 1 Điều 32) và bổ sung quy định cụ thể  trường hợp Nhà nước không bồi thường trong hoạt động tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thi hành án dân sự (các khoản 3 và 4 Điều 32).
           
5. Về xác định cơ quan giải quyết bồi thường trong tố tụng hình sự trong trường hợp Viện kiểm sát trả hồ sơ để điều tra bổ sung
Luật TNBTCNN năm 2017 tách trường hợp “Viện kiểm sát quyết định trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung, Cơ quan điều tra ra kết luận điều tra bổ sung hoặc kết luận điều tra mới đề nghị truy tố nhưng Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can vì không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm” thì cơ quan có trách nhiệm giải quyết bồi thường là Cơ quan điều tra (khoản 3 Điều 34).
         
6. Về
thiệt hại được bồi thường
- Bổ sung quy định về xác định thiệt hại (Điều 22); quy định cụ thể về cách tính thiệt hại như: căn cứ tính mức lãi suất (khoản 4 và khoản 5 Điều 23); lượng hóa một số thiệt hại như thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút, thiệt hại về vật chất do sức khỏe bị xâm phạm trên cơ sở  "lương tối thiểu vùng" (các điều 24, 25 và 26);
- Bổ sung các chi phí hợp lý khác được bồi thường như chi phí đi lại, in ấn tài liệu, chi phí thuê người bào chữa,… (Điều 28);
- Sửa đổi, bổ sung quy định về thiệt hại về tinh thần (Điều 27) như sau:
+ Bổ sung quy định về mức bồi thường thiệt hại về tinh thần trong trường hợp "bị giữ trong trường hợp khẩn cấp"02 ngày lương cơ sở;
+ Bổ sung quy định về mức bồi thường thiệt hại về tinh thần trong trường hợp bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn là 0,5 ngày lương cơ sở cho 01 ngày bị áp dụng biện pháp này;
+ Quy định tăng mức bồi thường thiệt hại về tinh thần trong trường hợp bị bắt, tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù thành 05 ngày lương cơ sở cho 01 ngày bị bắt, tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù (khoản 2 Điều 47 Luật TNBTCNN năm 2009 quy định là 03 ngày lương tối thiểu);
+ Quy định tăng mức bồi thường thiệt hại về tinh thần trong trường hợp không bị bắt, tạm giữ, tạm giam hoặc chấp hành hình phạt không phải là hình phạt tù thành 02 ngày lương cơ sở cho 01 ngày không bị bắt, tạm giữ, tạm giam hoặc chấp hành hình phạt (khoản 5 Điều 47 Luật TNBTCNN năm 2009 quy định là 01 ngày lương tối thiểu);
+ Tăng mức bồi thường thiệt hại về tinh thần trong trường hợp sức khỏe bị xâm phạm tối đa là 50 tháng lương cơ sở (khoản 4 Điều 47 Luật TNBTCNN năm 2009 quy định tối đa là 30 tháng lương tối thiểu).
+ Bổ sung quy định rõ trường hợp đã bồi thường thiệt hại về tinh thần trong trường hợp người bị thiệt hại chết thì không bồi thường thiệt hại về tinh thần trong các trường hợp khác (khoản 4 Điều 27).
- Bổ sung quy định về khôi phục các quyền, lợi ích hợp pháp khác đối với người bị thiệt hại là cá nhân hoặc tổ chức, như: Khôi phục chức vụ (nếu có), việc làm và các chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật; quyền học tập; tư cách thành viên của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; quyền, lợi ích hợp pháp khác (Điều 29).
         
7. Về
thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường tại cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại
- Rút ngắn thời gian giải quyết bồi thường từ khoảng 125 ngày xuống còn khoảng 50 ngày;
- Bổ sung quy định về tạm ứng kinh phí bồi thường đối với các thiệt hại có thể tính được ngay mà không cần xác minh (Điều 44);
- Bổ sung quy định về nguyên tắc thương lượng; quy định rõ thành phần tham gia thương lượng gồm: cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường, Viện kiểm sát trong trường hợp vụ việc yêu cầu bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự.
- Bổ sung quy định về thủ tục hoãn, tạm đình chỉ và đình chỉ việc giải quyết yêu cầu bồi thường (các điều 49, 50, 51); việc hủy, sửa chữa, bổ sung quyết định giải quyết bồi thường (Điều 48);
         
8. Về
phục hồi danh dự
- Mở rộng việc phục hồi danh dự không chỉ cho người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự mà còn trong trường hợp "công chức bị xử lý kỷ luật buộc thôi việc trái pháp luật, người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc trái pháp luật" (khoản 1 Điều 31, khoản 2 Điều 56);
- Bổ sung quy định cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại có trách nhiệm chủ động phục hồi danh dự cho người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự, công chức bị xử lý kỷ luật buộc thôi việc trái pháp luật, người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc trái pháp luật (khoản 2 Điều 31, Điều 57).

9. Về lập dự toán, quyết toán kinh phí bồi thường
- Quy định thống nhất đầu mối lập dự toán, quyết toán kinh phí bồi thường là Bộ Tài chính trong trường hợp cơ quan giải quyết bồi thường được bảo đảm kinh phí hoạt động từ ngân sách trung ương; là Sở Tài chính trong trường hợp cơ quan giải quyết bồi thường được bảo đảm kinh phí hoạt động từ ngân sách địa phương (Điều 61).
- Bỏ quy định về thủ tục kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ đề nghị bồi thường để cấp kinh phí; quy định theo hướng rút ngắn thời gian cấp phát kinh phí bồi thường và chi trả tiền bồi thường (Điều 62). 
           
10. Về trách nhiệm hoàn trả
- Quy định mọi trường hợp người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại bất kể có lỗi cố ý hay vô ý thì đều có trách nhiệm hoàn trả (Điều 64);
- Bổ sung quy định cụ thể về căn cứ, cách xác định mức hoàn trả, xét giảm mức hoàn trả (Điều 65), hoãn việc hoàn trả (khoản 3 Điều 68);
- Bổ sung quy định cụ thể thẩm quyền, thủ tục xác định trách nhiệm hoàn trả (Điều 66);
- Bổ sung quy định cụ thể về xử lý tiền đã hoàn trả, trách nhiệm hoàn trả trong một số trường hợp đặc biệt như: trường hợp văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường không còn là căn cứ yêu cầu bồi thường (Điều 69); trường hợp người thi hành công vụ chuyển sang cơ quan, tổ chức khác (Điều 70); trường hợp người thi hành côngvụ gây thiệt hại đã nghỉ hưu, nghỉ việc (Điều 71); trường hợp người thi hành công vụ gây thiệt hại chết (Điều 72).
         
11.
Trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong công tác bồi thường nhà nước
Luật TNBTCNN năm 2017 quy định Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án trên phạm vi cả nước. Tòa án nhân dân tối cao, VKSND tối cao phối hợp với Chính phủ thực hiện các nội dung quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình.
           
Ngoài ra, tại Điều 78 Luật TNBTCNN năm 2017 có quy định chuyển tiếp, cụ thể như sau:
"1. Các trường hợp yêu cầu bồi thường đã được cơ quan giải quyết bồi thường thụ lý trước thời điểm Luật này có hiệu lực thi hành nhưng chưa giải quyết hoặc đang giải quyết thì tiếp tục áp dụng quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước số 35/2009/QH12 để giải quyết.
2. Kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, các trường hợp được bồi thường theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước số 35/2009/QH12 mà còn thời hiệu theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước số 35/2009/QH12 nhưng chưa yêu cầu Nhà nước bồi thường hoặc đã yêu cầu nhưng chưa được thụ lý giải quyết thì áp dụng quy định của Luật này để giải quyết".

 

Tác giả bài viết: Văn phòng VKSND tỉnh

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 
Học tập và làm theo tấm gương đạo đức HCM
top