02:23 +07 Thứ hai, 16/09/2019
CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH DẠY KIỂM SÁT VIÊN PHẢI : " CÔNG MINH, CHÍNH TRỰC, KHÁCH QUAN, THẬN TRỌNG, KHIÊM TỐN ".                                                                                                                                               VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI HƯỞNG ỨNG CUỘC VẬN ĐỘNG: XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, KIỂM SÁT VIÊN : "VỮNG VỀ CHÍNH TRỊ, GIỎI VỀ NGHIỆP VỤ, TINH THÔNG VỀ PHÁP LUẬT, CÔNG TÂM VÀ BẢN LĨNH, KỶ CƯƠNG VÀ TRÁCH NHIỆM ".

TRANG LIÊN KẾT

VKSND tỉnh Gia Lai
Cổng thông tin điện tử Gia lai
Tạp chí Kiểm sát
tỉnh ủy gia lai
baovepl
Kiểm sát viên cần biết
Luật Việt Nam
mail công vụ

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang truy cậpĐang truy cập : 46

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 45


Hôm nayHôm nay : 139

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 10800

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 1261104

Liên hệ QC Trái

Trang nhất » Tin Tức Chung » Công tố - Kiểm sát

Hưởng ứng giải Búa liềm vàng : giải báo chí toàn quốc về xây dựng Đảng

Giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, kinh doanh thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật

Thứ tư - 28/03/2018 08:46
 
I. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT VÀ KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH, VỤ VIỆC DÂN SỰ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH GIA LAI

Năm 2017, Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Gia Lai đã thụ lý 4905 vụ, việc dân sự, kinh doanh thương mại, lao động, vụ án hành chính và những việc khác theo quy định của pháp luật (sau đây gọi tắt là vụ án hành chính, vụ việc dân sự) ([1]). Trong đó, đã giải quyết 4455 vụ, việc (số liệu từ ngày 01/10/2016 đến 30/9/2017); số vụ bị hủy là 67 vụ (tăng 54,5 vụ so với năm 2016); số vụ án bị sửa do sai là 24 vụ (giảm 06 vụ so với năm 2016).

Viện kiểm sát nhân dân hai cấp tỉnh Gia Lai thụ lý, kiểm sát giải quyết xong: 4.516 vụ, việc (số liệu từ ngày 01/12/2016 đến ngày 30/11/2017) ([2]). Trong đó: Viện kiểm sát tham gia 693 phiên tòa, phiên họp; phối hợp với Tòa án tổ chức 59 phiên tòa rút kinh nghiệm/23 Kiểm sát viên được phân công làm án dân sự, hành chính (tăng 30 phiên tòa so với năm 2016). Qua kiểm sát, phát hiện 401 bản án, quyết định có vi phạm, thiếu sót; ban hành 30 Kiến nghị (giảm 17 so với năm 2016) và 28 Kháng nghị phúc thẩm (số mới 17 – tăng 02 kháng nghị so với năm 2016)/57 bản án bị hủy, sửa. Tỷ lệ kháng nghị phúc thẩm được chấp nhận đạt 78% (chấp nhận 14 vụ/18 vụ kháng nghị đã xét xử) – Năm 2016 tỷ lệ này là 76,5% (chấp nhận 13 vụ/17 vụ kháng nghị đã xét xử). Số vụ án bị hủy, sửa có trách nhiệm của Viện kiểm sát là 14 vụ (tăng 07 vụ so với năm 2016). Viện kiểm sát tỉnh ban hành 09 thông báo rút kinh nghiệm về nghiệp vụ (giảm 07 so với năm 2016)

Số liệu trên phản ánh thực trạng công tác giải quyết và kiểm sát giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự tuy đã có nhiều chuyển biến tích cực nhưng vẫn còn tồn tại một số hạn chế như sau:
         
Thứ nhất, số vụ án bị hủy, sửa của Tòa án do lỗi chủ quan của Thẩm phán (91 vụ năm 2017) và do lỗi chủ quan của Kiểm sát viên (14 vụ năm 2017) đều có xu hướng tăng cao. Chất lượng công tác kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát chưa cao, vẫn còn có kháng nghị phúc thẩm chưa đạt yêu cầu nên không được Tòa án chấp nhận và nhiều vụ án bị hủy, sửa Viện kiểm sát không có kháng nghị hoặc kiến nghị. Nhiều văn bản kiến nghị của Viện kiểm sát nội dung không sâu, không mạnh, chủ yếu là kiến nghị vi phạm về thời hạn, việc chậm gửi các văn bản tố tụng, nên chất lượng và hiệu lực, hiệu quả còn có những hạn chế nhất định; nhiều dạng vi phạm về nội dung và tố tụng không được khắc phục kịp thời và triệt để.

Thứ hai, công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành, phân công, phân nhiệm trong tập thể lãnh đạo một số đơn vị cấp huyện còn chậm đổi mới, chưa có sự đầu tư bài bản, chuyên sâu về nghiệp vụ và chưa thật sự quyết liệt, tâm huyết với nhiệm vụ. Còn tình trạng coi nhẹ, nể nang. Nhiều đơn vị chỉ phân công 01 Kiểm sát viên phụ trách công tác này với vai trò làm việc kiêm nhiệm (01 Kiểm sát viên phụ trách nhiều khâu công tác) và số cán bộ lãnh đạo phụ trách, Kiểm sát viên có năng lực, có kinh nghiệm trong lĩnh vực công tác này không nhiều.

Thứ ba, công tác tự đào tạo và rèn luyện kỹ năng nghiệp vụ tuy đã được quan tâm nhưng hiệu quả chưa đáp ứng yêu cầu. Về phiên tòa rút kinh nghiệm mặc dù đã đạt chỉ tiêu số lượng nhưng chỉ chiếm 8,5% so với 693 phiên tòa, phiên họp Viện kiểm sát tham gia, là còn khiêm tốn; chất lượng phiên tòa rút kinh nghiệm có nơi chưa đạt yêu cầu, chưa thật sự tạo được môi trường tích cực để Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, cán bộ tự học tập nâng cao trình độ nghiệp vụ.

Thư tư, một số đơn vị cấp huyện khi kiểm sát giải quyết các tranh chấp phức tạp như: tranh chấp về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản; tranh chấp về thừa kế; tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn và sau khi ly hôn; tranh chấp về hợp đồng... còn lúng túng về kỹ năng nghiệp vụ, trình tự thủ tục tố tụng hoặc chưa nắm vững các quy định của pháp luật nội dung, dẫn đến sai lầm trong áp dụng pháp luật, không phát hiện hoặc chậm phát hiện vi phạm nên không kịp thời kiến nghị, kháng nghị.
Mặc dù phạm vi đánh giá của bài viết chỉ giới hạn trên địa bàn tỉnh Gia Lai nhưng qua theo dõi và tham khảo ở nhiều địa phương khác, chúng tôi cho rằng những tồn tại, hạn chế nêu trên trong công tác kiểm sát giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, một phần nào đó cũng là những mặt còn hạn chế của nhiều địa phương khác và xuất phát từ một số nguyên nhân cơ bản sau:

Về nguyên nhân khách quan:
- Trong những năm qua, các chính sách, văn bản pháp luật về đất đai, nhà ở,  hôn nhân và gia đình, dân sự, kinh doanh thương mại, doanh nghiệp...có nhiều thay đổi; một số văn bản pháp luật mâu thuẫn, chưa được các cơ quan có thẩm quyền kịp thời hướng dẫn, gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong nhận thức, áp dụng pháp luật.
- Các vụ án bị hủy án, sửa án đa số là những vụ án có tính chất phức tạp, được điều chỉnh bởi nhiều quy phạm pháp luật nội dung rất rộng lớn qua nhiều thời kỳ như lĩnh vực đất đai, nhà ở. Bên cạnh đó, một số địa phương thường xuyên có biến động về đất đai, giá trị quyền sử dụng đất tăng đột biến; công tác quản lý, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của một nơi còn nhiều sai sót trong đo đạc, cấp chồng chéo các thửa đất, cấp đất không đúng diện tích thực tế sử dụng...dẫn đến tranh chấp về quyền sử dụng đất ngày càng gay gắt, phức tạp. Việc hòa giải ở cơ sở đối với tranh chấp đất đai còn mang tính hình thức, chưa được chú trọng đúng mức, một số nơi tiến hành hòa giải không đúng thành phần, tiến hành hòa giải và lập biên bản hòa giải cả khi không có sự tham gia đầy đủ của các bên đương sự. Một số cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai không hợp tác và không cung cấp chứng cứ cho Tòa án hoặc không trả lời xác minh của Tòa án theo quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết tranh chấp về đất đai, dẫn đến việc thu thập, đánh giá chứng cứ ở cấp sơ thẩm gặp nhiều khó khăn.

Về nguyên nhân chủ quan:
- Công tác kiểm sát giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự chưa thật sự được coi trọng và đầu tư các nguồn lực để bảo đảm thực hiện tốt, nhất là đối với các đơn vị cấp huyện.
- Một số Kiểm sát viên chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ; năng lực, trình độ chưa đồng đều (nhiều Kiểm sát viên mới bổ nhiệm được phân công làm công tác kiểm sát giải quyết án dân sự, hành chính). Về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, có lúc, có việc chưa đáp ứng được yêu cầu của nhiệm vụ và khối lượng công việc cũng như sự đa dạng, tính chất phức tạp của án dân sự trong tình hình hiện nay.
- Còn tồn tại tâm lý nể nang, coi nhẹ nên thiếu sự chủ động, chậm đổi mới trong việc tích lũy kinh nghiệm, kỹ năng nghiệp vụ; chưa nêu cao tinh thần học tập, rèn luyện kỹ năng chuyên môn, ít nghiên cứu văn bản pháp luật, không nắm bắt kịp thời hướng dẫn của cấp trên cũng như sự thay đổi trong chính sách pháp luật nên năng lực và trình độ chuyên môn còn hạn chế, hiệu quả công tác chưa cao.
- Nghiên cứu hồ sơ, kiểm sát giải quyết vụ án không kỹ, bỏ sót hoặc không tuân thủ đầy đủ quy trình nghiệp vụ, dẫn đến không phát hiện được vi phạm hoặc còn chủ quan khi nhận định về tính chất, mức độ của vi phạm không chính xác nên không tham mưu thực hiện được quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị phù hợp.
         
II. GIẢI PHÁP

Chỉ thị số 01/CT-VKSTC ngày 20/12/2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về công tác của ngành Kiểm sát nhân dân năm 2018 đã xác định: “Năm 2018, toàn Ngành xác định nhiệm vụ nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, kinh doanh thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật là một trong những nhiệm vụ trọng tâm. Để cụ thể hóa, thực hiện tốt nhiệm vụ này, bảo đảm việc giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc dân sự kịp thời, đúng quy định của pháp luật và khắc phục những mặt còn tồn tại, hạn chế như đã phân tích nêu trên cần thiết phải có những giải pháp đột phá mạnh mẽ hơn, đổi mới hơn cả về nhận thức và hành động. Chúng tôi đề xuất 04 nhóm giải pháp cụ thể như sau:
         
1. Nhóm giải pháp đổi mới về nhận thức
         
Một là, đổi mới nhận thức của Ngành về chức năng, nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, tố tụng hành chính: Toàn Ngành đã xác định việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự là “Nhiệm vụ trọng tâm”. Điều này khẳng định về mặt nhận thức, đã có bước đổi mới then chốt và quan trọng. Theo đó, giải pháp trước tiên là “Nhận thức đúng để hành động đúng”. Cần thống nhất xác định công tác kiểm sát giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự là “công tác đột phá” trong toàn Ngành. Bởi công tác kiểm sát giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự là một bộ phận quan trọng của chức năng Kiểm sát hoạt động tư pháp và là công việc rất khó khăn, phức tạp. Do vậy, để bảo đảm thực hiện tốt công tác này, cần có sự đánh giá, nhìn nhận, quan tâm đúng mức và sự chỉ đạo sát sao của Lãnh đạo Viện kiểm sát các cấp, nhất là các đồng chí Lãnh đạo Viện kiểm sát cấp huyện.

Mỗi đơn vị cần xây dựng Kế hoạch riêng để thực hiện công tác đột phá; trong đó xác định rõ mục đích, yêu cầu, trách nhiệm; phân công nhiệm vụ và đề ra giải pháp cụ thể; thời gian, tiến độ thực hiện và cơ chế kiểm tra, giám sát, đôn đốc việc thực hiện.

Từng cán bộ, Kiểm sát viên cần tiếp tục quán triệt, nhận thức đúng và đầy đủ về vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân theo quy định mới của Bộ luật tố tụng dân sự và Luật tố tụng hành chính năm 2015 để nâng cao trách nhiệm trong thực thi công vụ, nhiệm vụ.
         
Hai là, đổi mới trong việc thông tin, tuyên truyền về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của ngành Kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự, tố tụng hành chính: Trong nhiều năm gần đây, ngành Kiểm sát nhân dân luôn chú trọng và đẩy mạnh việc thông tin, tuyên truyền. Hoạt động này đã lan tỏa đến mọi tầng lớp nhân dân hiểu được trách nhiệm của cơ quan tố tụng trong việc tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân; giúp người dân nâng cao nhận thức về pháp luật, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và nền Pháp chế Xã hội chủ nghĩa. Đồng thời đây cũng là giải pháp góp phần quan trọng nâng cao vị thế của Viện kiểm sát nhân dân trước Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Do vậy, để làm tốt chức năng, nhiệm vụ của Ngành nói chung và công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, tố tụng hành chính nói riêng, chúng ta cần tiếp tục phát huy sức mạnh của “Kênh thông tin, tuyên truyền”, với tần suất nhiều hơn, sâu sắc hơn về nội dung, về vai trò của người Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân trong việc đồng hành cùng với người dân “Bảo vệ pháp luật”, “công bằng, lẽ phải”. Khi người dân biết được, hiểu được và nhận thức được vị trí, vai trò của Viện kiểm sát là “Cơ quan Bảo vệ pháp luật”, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân và được sử ủng hộ, tin cậy của nhân dân, cũng như của toàn xã hội sẽ góp phần rất lớn cho Viện kiểm sát nhân dân thực hiện tốt công tác kiểm sát tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, tố tụng hành chính cũng như thực hiện tốt chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp mà Đảng và Nhà nước đã giao phó.
         
2. Nhóm giải pháp về quản lý, chỉ đạo điều hành
         
Thứ nhất,
tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo điều hành trong việc phân công, phân nhiệm trong tập thể lãnh đạo và đảm bảo “không có vùng trống cán bộ chuyên trách” trong thực hiện các nhiệm vụ công tác kiểm sát giải quyết án dân sự, hành chính, nhất là đối với Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện.

Thứ hai, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh cần có kế hoạch tăng cường biên chế, điều động, bố trí Kiểm sát viên tương xứng với tính chất, mức độ công việc cụ thể của từng đơn vị. Trong đó chú trọng tăng cường đội ngũ Kiểm sát viên có kinh nghiệm cùng với việc quan tâm bồi dưỡng, đào tạo những Kiểm sát viên, Kiểm tra viên trẻ tuổi có năng lực.
         
Thứ ba, thực tiễn cho thấy các vụ án hành chính, dân sự bị hủy án, sửa án có liên quan đến trách nhiệm của Viện kiểm sát thường là những vụ án về tranh chấp về đất đai, nhà ở, quyền sở hữu, chia thừa kế, hợp đồng mua bán hàng hóa...Do vậy, để hạn chế đến mức thấp nhất án bị hủy, sửa có trách nhiệm của Viện kiểm sát và nâng cao trách nhiệm của tập thể, cá nhân, cần lưu ý đối với những vụ án phức tạp như đã nêu trên hoặc đối với những vụ án Viện kiểm sát xem xét kháng nghị phúc thẩm, các đơn vị quy định và thực hiện quy trình Kiểm sát viên phải báo cáo xin ý kiến về đường lối giải quyết vụ án với tập thể lãnh đạo Viện kiểm sát, nhằm phát huy tối đa trí tuệ của tập thể, bảo đảm giải quyết vụ án đúng pháp luật.
         
Thứ tư, xây dựng và ký kết Quy chế phối hợp với Tòa án nhân dân trong công tác kiểm sát giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự để thực hiện tốt hơn chức năng, nhiệm vụ của Ngành.
          Bên cạnh đó, cần nghiên cứu xây dựng Quy trình kiểm sát giải quyết án dân sự, hành chính phù hợp với quy định của pháp luật và tình hình thực tiễn, có tính chất như “Cẩm nang” hoặc “Sổ tay” về kỹ năng thực hiện chức năng, nhiệm vụ để thống nhất áp dụng, nâng cao chất lượng công tác.

Thứ năm, thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 03/CT-VKSTC ngày 28/12/2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về tăng cường việc thỉnh thị, trả lời thỉnh thị, hướng dẫn, giải đáp vướng mắc, thông báo rút kinh nghiệm trong công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp. Duy trì và tăng cường phối hợp, trao đổi giữa Viện kiểm sát cấp trên với Viện kiểm sát cấp dưới và trao đổi, tham khảo kinh nghiệm với các đơn vị đã làm tốt, có nhiều sáng kiến, kinh nghiệm hoặc cách làm đạt hiệu quả cao trong công tác kiểm sát bản án, quyết định, công tác thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị; qua đó, học tập, nhân rộng các điển hình làm tốt, hỗ trợ cho nhau để hoàn thành tốt công tác kiểm sát tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự gắn với mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên “Vững về chính trị, giỏi về nghiệp vụ, tinh thông về pháp luật, công tâm và bản lĩnh, kỷ cương và trách nhiệm”.
         
3.  Nhóm giải pháp về đào tạo, nâng cao chất lượng cán bộ
         
Một là,
tổ chức Cuộc thi “Chúng tôi là Kiểm sát viên” năm 2018 về công tác kiểm sát giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự. Qua đó, tạo không khí, tinh thần nghiên cứu, học tập sôi nổi, lan tỏa sâu rộng trong toàn thể cán bộ, công chức, Kiểm sát viên để trau đồi kiến thức, nâng cao kỹ năng nghiệp vụ; tạo sân chơi trí tuệ, môi trường giao lưu, học hỏi, trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm, góp phần nâng cao chất lượng cán bộ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của Ngành trong tình hình mới.
         
Hai là, tăng cường tự đào tạo thông qua việc tổ chức có chất lượng các phiên tòa rút kinh nghiệm; các văn bản thông báo rút kinh nghiệm; hoạt động thanh tra, kiểm tra, hướng dẫn, trao đổi, thỉnh thị về nghiệp vụ. Đề nghị Viện kiểm sát nhân dân tối cao nghiên cứu truyền hình trực tuyến phiên tòa giải quyết vụ án dân sự điển hình từ Hội trường xét xử của Tòa án đến tất cả các điểm cầu trong toàn quốc để cùng học tập, rút kinh nghiệm.
         
Viện kiểm sát cấp tỉnh trong phạm vi địa hạt cũng cần nghiên cứu phương án tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm theo cụm (từ 3 đến 5 đơn vị VKS cấp huyện/01 cụm/01 phiên tòa rút kinh nghiệm chung) hoặc tổ chức truyền hình tực tuyến phiên tòa rút kinh nghiệm đến tất cả các điểm cầu Viện kiểm sát cấp huyện trong phạm vi địa phương mình để tự đào tạo, nâng cao chất lượng cán bộ. Ngoài ra, Viện kiểm sát cấp trên cần tăng cường việc dự, chỉ đạo tại các phiên tòa rút kinh nghiệm của cấp dưới; qua đó, kịp thời uốn nắn, chấn chỉnh những mặt còn tồn tại, hạn chế, đồng thời tổng hợp, thông báo nhân rộng những điển hình tập thể, cá nhân Kiểm sát viên làm tốt và có cơ chế khen thưởng, động viên kịp thời, tạo động lực thi đua, phấn đấu hoàn thành xuất sắc chức năng, nhiệm vụ.
Viện kiểm sát cấp trên cần tăng cường hướng dẫn nghiệp vụ, thông báo rút kinh nghiệm những vụ án do Viện kiểm sát kháng nghị có chất lượng tốt, được Toà án xử chấp nhận kháng nghị huỷ án, sửa án để các đơn vị cấp dưới cùng nghiên cứu, học tập, rút kinh nghiệm. Chúng tôi đề xuất xây dựng trên các Trang thông tin điện tử của Ngành “chuyên trang”, “chuyên mục” chuyên đăng tải các Kháng nghị giám đốc thẩm, Kháng nghị phúc thẩm, Thông báo rút kinh nghiệm và các chuyên đề nghiệp vụ hoặc xuất bản những ấn phẩm chuyên đề như đã nêu để các Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, công chức làm công tác kiểm sát giải quyết án dân sự, hành chính có điều kiện học tập, tích luỹ kinh nghiệm, nâng cao trình độ nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp.
         
Ba là, nghiên cứu xây dựng Chuyên đề kinh nghiệm, kỹ năng nhận diện và phát hiện vi phạm thông qua các vụ án dân sự, hành chính bị hủy, sửa và qua công tác kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án để tập huấn cho Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, công chức làm công tác kiểm sát giải quyết án dân sự, hành chính. Đồng thời đưa vào giảng dạy tại các khóa đào tạo về nghiệp vụ Kiểm sát viên trong nhà trường.
         
4. Nhóm giải pháp về nghiệp vụ
         
Thứ nhất, tham gia có chất lượng 100% các phiên tòa, phiên họp thuộc trường hợp Viện kiểm sát phải tham gia theo quy định của pháp luật và nâng cao chất lượng Bản phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa, phiên họp. Các hoạt động này là một trong những bước tố tụng rất quan trọng để Viện kiểm sát hiểu sâu, nắm chắc toàn bộ quá trình giải quyết vụ án của Tòa án trước khi ra bản án; có ý nghĩa nhiều mặt trong việc xác định và làm rõ “những vấn đề cơ bản của một vụ án dân sự”, gồm: Đối tượng tranh chấp; Quan hệ pháp luật; thẩm quyền giải quyết của Tòa án; thời hạn, thời hiệu; quyền và điều kiện khởi kiện; đương sự trong vụ án; nội dung yêu cầu khởi kiện và phạm vi khởi kiện hoặc phản tố; chứng cứ và việc giao nộp, thu thập chứng cứ; pháp luật áp dụng...Từ đó, tạo tiền đề vững chắc để Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án. Đồng thời đây cũng là bước then chốt để thực hiện có hiệu quả hoạt động kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án sau phiên tòa xét xử.
         
Thứ hai, tăng cường kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án, kịp thời phát hiện vi phạm để kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật, nhằm hạn chế đến mức thấp nhất các trường hợp bản án bị hủy, sửa có trách nhiệm của Viện kiểm sát. Để làm tốt công tác này, ngoài việc thực hiện các bước nghiệp vụ tiền đề nêu trên, cần phải coi việc kiểm sát bản án, quyết định của Toà án là một trong những nhiệm vụ chính, quan trọng hàng đầu, có sự hỗ trợ, bổ sung thông qua việc nghiên cứu hồ sơ, tham gia phiên toà, phiên họp và mỗi cán bộ, Kiểm sát viên phải nắm chắc “những vấn đề cơ bản của một vụ án dân sự” như đã nêu ở trên.
         
Thứ ba, nâng cao chất lượng văn bản thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị, bảo đảm thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 10/CT-VKSTC ngày 06/4/2016 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về tăng cường công tác kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các vụ việc dân sự, vụ án hành chính. Trong đó, cần chú trọng tăng cường đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu về kỹ năng tham mưu, xây dựng văn bản thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị cho đội ngũ Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, chuyên viên làm công tác kiểm sát giải quyết án dân sự, hành chính. Chúng tôi cho rằng, đây cũng là một trong những yêu cầu cấp bách cần được ưu tiên hàng đầu. Bởi lẽ, chất lượng công tác trong lĩnh vực này phần lớn phụ thuộc vào hiệu quả, chất lượng của việc thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị. Trong thao tác nghiệp vụ, ngoài cơ chế kiểm duyệt kỹ lưỡng trước khi ban hành, cần có những điều chỉnh linh hoạt, phù hợp, tùy tính chất và đặc điểm tình hình để yêu cầu, kiến nghị hay kháng nghị một cách triệt để và toàn diện, tránh tràn lan, chạy theo số lượng, chạy chỉ tiêu mà không đúng trọng tâm, làm giảm hiệu lực, hiệu quả các quyền năng pháp lý này. Bên cạnh đó, phải thường xuyên đôn đốc, “nhắc việc” và có biện pháp đề nghị xử lý đối với cá nhân, cơ quan, đơn vị mặc dù đã nhận được yêu cầu, kiến nghị của Viện kiểm sát nhưng không thực hiện hoặc chậm thực hiện, bảo đảm 100% các yêu cầu, kiến nghị của Viện kiểm sát được cơ quan chức năng tiếp thu, thực hiện./.


([1]) Báo cáo số 99/BC-TA ngày 29/11/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai tại Kỳ họp Thứ 5 Hội đồng nhân dân tỉnh Gia Lai khóa XI
([2]) Báo cáo tổng kết công tác kiểm sát năm 2017 (số 388/BC-VKS ngày 04/12/2017) của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai

Tác giả bài viết: Nguyễn Thành Duy

Tổng số điểm của bài viết là: 9 trong 2 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 
Học tập và làm theo tấm gương đạo đức HCM
top